Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

CỰU CHỦ TỊCH QUỐC HỘI BÀN VỀ VIỆC SỬA HIẾN PHÁP

Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước – Cựu Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.

LTS: Gặp gỡ&Đối thoại thứ Năm tuần này là cuộc trò chuyện với cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc tu chính Hiến pháp 1992 sắp tới.

– Thưa ông, tại phiên Thảo luận ở hội trường về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 và điều chỉnh chương trình 2010 hôm 9/6, hầu hết các ĐBQH phát biểu đều đề nghị sửa ngay một số điều của Hiến pháp 1992. Từng đảm nhiệm trọng trách người đứng đầu cơ quan lập pháp, ông chia sẻ sự quan tâm như thế nào về vấn đề này?

Cựu Chủ tịch  QH Nguyễn Văn An: Tôi rất quan tâm, vì sửa đổi Hiến pháp là một sự kiện trọng đại của toàn dân. Tôi vừa hy vọng, lại cũng vừa lo, vừa băn khoăn trăn trở, vì không biết sửa đổi lần này có đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân không?

Dân phúc quyết

– Vì sao ông có tâm trạng như vậy?

Tôi có tâm trạng như vậy là do kinh nghiệm cuộc sống mách bảo. Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?

Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.

Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.

Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa. Chính vì thế mà tôi lo, tôi băn khoăn, trăn trở.

– Thưa ông, tôi hiểu rằng lần sửa đổi sau luôn phải đảm bảo tính kế thừa và hoàn thiện tốt hơn lần trước chứ ạ?

Về nguyên tắc là như vậy. Song không phải lúc nào, không phải cái gì cũng như vậy.

Sửa đổi nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu

Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn  An.

– Có vẻ vẫn hơi chung chung, mong ông nói rõ hơn về việc này?

Vâng. Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.

Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó có mấy tháng.

Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam – Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,…

Tuy vậy chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.

Cho nên, không thể đặt Hiến pháp ngang hàng với các bộ luật khác do Quốc hội thông qua. Hiến pháp là bộ luật cơ bản, luật gốc, luật mẹ được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết nên rất ổn định, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của Hiến pháp, như thể chế chính trị, ai là chủ đất nước, quyền của người chủ đất nước là những gì; ai là nguyên thủ quốc gia, quyền của nguyên thủ quốc gia là những gì?; vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước…

Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ba vấn đề cốt lõi

– Sự xa rời và không rõ ràng như ông vừa nói thể hiện ở những điểm cụ thể nào?

Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:

Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.

Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo…).

Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:

Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70″.

Điều 32 của Hiến pháp 1946  quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý”.

Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây… Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.

Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.

Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.

Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:

Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, là cơ quan duy nhất “có quyền lập Pháp”, có quyền “làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”.

Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.

Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất  có quyền lập Hiến và lập Pháp”…

Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.

Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.

Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.

Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.

Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.

Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.

Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy, chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.

Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ  Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân – của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.

Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:

a/ – Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình ( Quốc hội ) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,

b/ – Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.

Chúng ta nói nhiều về Dân chủ, rằng nhân dân ta là người chủ đích thực của đất nước, rằng nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân,… song những quyền tối hậu của người Dân thì lại chưa được quy định cụ thể và đầy đủ trong các Hiến pháp sửa đổi sau Hiến pháp 1946.

Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.

Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả. Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình  và thống nhất đất nước như hiện nay.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt  Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.

Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.

Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.

– Vấn đề cốt lõi thứ hai ở đây là gì?

Đó là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?

Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.

Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.

Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,… Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.

Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:

a, Thay mặt cho Nước…

b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc…

c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng….

d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ …

……………….

h, Ký hiệp ước với các nước….

Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: “Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc”.

Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.

Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:

a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,

b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,

c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,

Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:

Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại”.

Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng”, song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.

Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ”. Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.

Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.

Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.

Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.

Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.

Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.

Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.

– Và vấn đề cốt lõi thứ ba?

Đó là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.

Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.

Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa… Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.

Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.

Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng,  cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội – Chính phủ – Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.

Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.

Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.

Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.

Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.

Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.

Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.

Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

– Thưa ông, có ý kiến cho rằng, Hiến pháp 1946 và các Hiến pháp được sửa đổi bổ sung sau này của Việt Nam không theo một khuôn mẫu nào của thế giới, có đúng vậy không?

Theo tôi, nói công bằng hơn thì chỉ có các Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung sau này (1959, 1980, 1992) là theo khuôn mẫu của cộng hòa Xô Viết, nó không gần với những khuôn mẫu chung của thế giới và có một số quy định cốt lõi lại xa rời với Hiến pháp 1946.

Riêng Hiến pháp 1946 vẫn nằm trong ba hình thức phổ biến của thế giới có nền thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa:

a, Thể chế cộng hòa Tổng thống: Tổng thống là nguyên thủ quốc gia.

b, Thể chế cộng hòa đại nghị: Tổng thống hoặc Thủ tướng là nguyên thủ quốc gia.

c, Thể chế cộng hòa lưỡng tính: Tổng thống hoặc Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia.

Hiến pháp 1946 của nước ta nằm trong loại hình tổ chức thứ ba. Các Hiến pháp sửa đổi, bổ sung sau này có một số vấn đề hệ trọng lại xa rời, hoặc không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, ví dụ như vấn đề cân bằng và kiểm soát quyền lực, vấn đề tập trung quyền của nguyên thủ quốc gia, vấn đề dân phúc quyết Hiến pháp,…

Như vừa rồi tôi đã nói, thực ra lịch sử của Nhà nước nói chung mới có hai loại thể chế: Thể chế Quân chủ và thể chế Dân chủ. Mỗi thể chế đó cũng có những quá trình vận động và có những khác biệt tùy theo sự phát triển, điều kiện và con người lịch sử cụ thể.

Cũng có thể Hiến pháp ghi nền thể chế là Cộng hòa hay Dân chủ Cộng hòa, song thực chất vẫn là chuyên chế, không phải là quân chủ chuyên chế mà là tập thể chuyên chế. Đó là sự biến tướng, tiếm quyền. Tức là về mặt hình thức có thể là Cộng hòa hay Dân chủ Cộng hòa, song về thực chất vẫn có thể là chuyên chế.

– Tóm lại, ông muốn gửi gắm điều gì trong lần sửa đổi Hiến pháp sắp tới?

Tôi muốn gửi gắm nhiều điều, muốn được trở lại rất nhiều điểm tiến bộ, hiện đại của Hiến pháp 1946. Đó là những vấn đề về: Dân chủ, Cộng hòa, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trên đây tôi chỉ nhấn mạnh có ba vấn đề:

1/-  Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.

2/-  Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.

3/-  Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.

Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.

– Xin cám ơn ông!

Thu Hà
Nguồn: Tuần Việt Nam

Advertisements

Tháng Sáu 24, 2010 - Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý |

4 phản hồi »

  1. Tai sao khong dua van de the che chinh tri cua dat nuoc Viet nam? Phai thao laun cho ro de di toi che do da dang cho moi nguoi dan Viet nam co quyen chon cho minh nhung nguoi lanh dao tai gio that long vi dan vi nuoc, nhung nguoi dam dat loi ich cua dan toc va dat nuoc len tren loi ich ca nhan. Da dao che do doc dang (dang CSVN) hien nay.

    Bình luận bởi Van thanh | Tháng Sáu 28, 2010 | Phản hồi

  2. Các nhà dân chủ trong ,ngoài nước hãy làm ngay việc quan trọng là phát tán các bài viết của ông An tới nhân dân và cán bộ,đảng viên trong nước khơi lên một tình thần đấu tranh dòi quyền phúc đáp hiến pháp và nền dân chủ cho đất nước thông qua chế độ đa đảng và nhà nước pháp quyền ,làm cho mọi nhận thúc được chế độ độc đảng hiện nay chỉ có lợi cho tầng lớp đảng viên có chức có quyền còn các đảng viên không nắm giữ chức vụ trong đảng ,chính quyền cũng như người lao động bị bóc lột dã man và nguy đất nước đang bị mất dần vào tat TRung Cộng

    Bình luận bởi vo huy | Tháng Sáu 30, 2010 | Phản hồi

  3. Qua bài trên Ai bảo những người CS không hiểu giá trị đích thực của nhà nước CH, mà cốt lõi là tam quyền phân lập, chỉ có điều Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối về mọi mặt cho nên phải chấp nhận sự vô lý đến phi lý mà mọi Đảng viên không thể “cải lời” cấp trên. Có lẻ đã đến lúc Đảng CS không có lý do gì giữ mãi quyền phán quyết của nhân dân đối với vận mệnh đất nước, Vận mệnh của đất nước phải thuộc về nhân dân, không ai có quyền đoạt quyền đó dưới bất kỳ hình thức gì, cho dù đó là Đảng CS Việt Nam. Nếu Đảng CS cho rằng quyền định đoạt vận mệnh đất nước thuộc về Đảng thì ai sẻ chịu trách nhiệm sự lạc hậu của đất trên mọi phương diện, đất nước có chuyên mình không đồng nghĩa với dất nước đang phát triễn đi lên, sự chuyển mình đó là nhờ vay tiền bạc của nước ngoài và một phần do đổi mới (KT tư nhân và nc ngoài phát triễn) thiếu bền vững đến một lúc nào đó trả nợ Nước ngoài, con cháu ta trả nợ được không? trả nợ thì lấy gì để phát triễn.
    Có lẽ đã đến lúc tất cả Đảng viên CS cần phải lên tiếng bảo vệ quyền quyết vận mệnh của đất nước bằng chính lá phiếu của mình của toàn thể ND Việt Nam.

    Bình luận bởi Nguyễn Trọng | Tháng Bảy 1, 2010 | Phản hồi

  4. i xin đặt mấy câu hỏi:

    – Đâu là nguyên nhân của lạm phát?
    –> + nền kinh tế nhạy cảm với thông tin? (tiền lương, giá nhiêu liệu, tăng trưởng)
    + hệ thống kinh tế thị trường là một khốii có sức ảnh hưởng tác động lẫn nhau chặt chẽ, phức tạp? (chỉ một thay đổi ở một bộ phận, lĩnh vực sẽ tác động đến hệ thống có tính hiệu ứng)
    + hệ thống quản lí, điều hành, dự báo, phản ứng của cấp lãnh đạo?

    – Lạm phát có phải biểu hiện ban đầu của khủng hoảng kinh tế lâu dài?

    –> + Năng lực lãnh đạo hiện nay có chèo lái được nền kinh tế thị trường luôn biến động?
    + Đâu là giải pháp mang tính triệt để cốt lõi?
    + Kinh tế tư nhân sẽ phải thể hiện vai trò lớn hơn trong nền kt?
    + Đâu là giải pháp của các nước trong khu vực? (TQ có lâm vào hoàn cảnh tương tự, có phải Mỹ đang là 1 điển hình của khủng hoảng nền kinh tế thị trường)

    CỔ PHẦN HÓA-NHÀ NƯỚC NẮM 51% CÓ LÀM MẤT Ý NGHĨA CPH HAY KNG? VÌ CHỈ CÓ CỔ Đ.G MỚI LỰA CHỌN RA NGƯỜI LÃNH ĐẠO TỐT NHẤT – KỂ NHƯ TQ NNUOC CHỈ NẮM TỐI ĐA LÀ 40% VÌ ĐỂ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ TRONG CHIẾN LƯỢC NHÂN SỰ,CẠNH TRANH CỦA CUỘC CM CPH.
    CAN LÀM NGAY BẦU CỬ TRỰC TIEP NHÂN SỰ CẤP CAOO VỀ HÀNH, LAP, TƯ PHÁP- VÀI NĂM MỘT LẦN. AI LÀM KHONG TỐT PHẢI XỬ LÝ NGAY, KHÔNG KIÊNG NỂ, KHOANH VÙNG BẤT CỨ CẤP NÀO, ĐÓ HOÀN TOANF VII LỢI ÍCH NWỚC NHÀ. KO ĐỂ DAN CHỊU ĐỰNG THÊM NỮA.
    BàI TOÁN KINH TẾ – ĐI TÌM LÝ THUYẾT,THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ,KINH TẾ PHÙ HỢP TÍNH CÁCH CON NGƯỜI VN
    VĂN PHÒNG CÔNG – SỐNG BẨN MỚI TRỤ VỮNG
    BỎ THI ĐẠI HỌC – ĐƯỜNG TIỂU NHÂN RỘNG THÊNH THANG
    ĐẠI HỌC CÔNG LẬP – CÓ PHẢI BẢN CHẤT THÂM ĐỘC CUẢ NÓ LÀ ĐỂ LÀM NGU MUỘI VÀ KIỀM HÃM NHÂN TÀI HAY LÀ ĐỒNG HOÁ TRÍ TUỆ VIỆT.

    THỦ ĐÔ – ĐÃ KHÔNG CÒN ĐẤT SỐNG CHO NGƯỜI HIỀN
    LÃNH ĐẠO – CÀNG “SÁN GTẠO” NHIỀU DỰ ÁN CÀNG TỐT-CŨNG KHÔNG Q.TRỌNG VẤN ĐỀ L.ÍCH ĐÂU -CHỈ CẦN NGHE HỢP LÝ ĐỂ BỊT DÂN LÀ ĐƯƠC
    ĐỪNG KHI NÀO TRÔNG ĐỢI VÀO SỰ THAY ĐỔI,ĐÓ LÀ SAI LẦM TRONG PHÂN TÍCH

    THẾ GIỚI ĐANG DẦN BỎ VÌ ĐANG DẦN NHẬN THỨC RA, CÁI KÉM, PHẢN CM CỦA CH. ĐỘ ĐCS, XHCN(KHÁCH CŨNG ÍT DẦN), LÀM MẤT HÌNH ẢNH DÂN TỘC VN ANH HÙNG NHÂN NGHĨA.
    (MÀ CŨNG CHẲNG PHẢI LÀ ĐCS, LÀ CNXH . HI HI)

    PHONG TRÀO HỌC TẬP BÁC HỒ – LÀ ĐỂ MỊ DÂN LÀ MUỐN NÓI RẰNG CHÓP BU “ĐCS” LÀ CÓ ĐẠO ĐỨC. KE KE – BÁC HỒ CÓ NÓI BẦU CỬ DÂN CHỦ ĐÓ…?

    ĐẢNG CỘNG SẢN HAY CNXH- THỰC RA KO TỒN TẠI Ở BẤT CỨ QUỐC GIA NÀO Ở THỜI ĐIỂM NÀY, VÌ AI CŨNG BIK RĂGN NÓ QUÁ CỰC ĐOAN, LÝ TƯỞNG VÀ MÂU THUẪN – KỂ CẢ TRUNG QUỐC CŨNG GỌI LÀ “CNXH MÀU SẮC TQ” NÓI THẾ VÌ KINH TẾ LÀ CỦA TƯ BẢN , CÒN CS LÀ ĐỂ CẦM QUYỀN THUI. TUI NÓI THẾ OKE CUH. KE KE
    MỊ DÂN VÀ THEM LEM

    CÓ PHẢI BẢN CHẤT CUẢ TIỂU NHÂN BẮC HÀ LÀ MỊ DÂN, GIẢ NHÂN NGHĨA, CƠ HỘI, THAM DANH LỢI VÀ ĐẶC BIỆT CỤC BỘ VÀ HUỶ DIỆT GIAI CẤP.
    “CỘNG SẢN VN” ĐÚNG LÀ MẢNH ĐẤT MÀU MỠ NUÔI DƯỠNG TÍNH CÁCH BỌN BẮC VIỆT.CỎ THỂ NÓI CS = DÂN BẮC

    [U]:[/U]

    – THẬT RA MÀ NÓI, KẺ THÙ LỚN NHẤT CỦA MỌI NGƯỜI DÂN CHÍNH LÀ PHẦN ÂM, LÀ THỔ ĐỊA, LÀ CÁC VỊ THẦN THÁNH, PHẬT PHÁP… ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI MỌI NHÀ THÌ ĐÓ LÀ THỔ ĐỊA, VÌ THỔ ĐỊA KHÔNG PHẢI THÂN THÍCH VỚI NHÀ MÌNH, MÀ NGƯỜI VN THÌ CHẲNG AI GIÚP AI VÌ ĐẦY LÒNG GHEN GHÉT, THỔ ĐỊA CÓ QUYỀN BAN PHÁT LOOC, CÓ QUYỀN CHO CÁC VONG NÀO VÀO NHÀ…

    CÒN PHẬT GIA, HỌ TU LUYỆN KHOO KHỔ HẠNH LÀ DO THÙ VỚI ĐỜI, LÀ DO GHEN TỊ GHEN GHÉT CON NGƯỜI GIỎI HƠN MÌNH NÊN BỎ ĐỜI ĐI TU, KHI TU ĐẾN PHẬT(THẬT RA THÌ K AI CÓ QUYỀN NĂNG TẠO HÓA CẢ, KỂ CẢ PHẬT,
    VÌ NHƯ LÃO TỬ NÓI LÀ ĐỜI TỒN TẠI ĐẠO, ĐẠO CHI PHỐI TẤT CẢ,

    CÒN LẠI PHẬT CHỈ LÀ NGƯỜI TRUYỀN DẠY ĐẠO NHƯ CHÚA THÔI CHỨ KHÔNG CÓ QUYỀN NĂNG VÔ BIÊN GÌ NHƯ PHẬT ĐÃ NÓI, TẤT CẢ ĐỀU LÀ MỊ DÂN) THÌ HỌ CÓ QUYỀN LỰC, Q NĂNG LỚN NÊN HỌ MỚI DÙNG ĐẠO ĐỂ QUAY LẠI HẠI NGƯỜI, VÌ KHUYÊN NGƯỜI PHẢI THEO ĐẠO, PHẢI QUÂN TỬ… (NHƯNG THỰC TẾ LÀM NGƯỜI CÓ AI LÀ QUÂN TỬ MÀ SỐNG ĐC DÂU)
    NÊN PHẬT GIA DÙNG ĐẠO + QUYỀN NĂNG CỦA MÌNH ĐỂ TRỊ NGƯỜI. CHO NÊN ĐẤT NƯỚC CÀNG ĐIÊN ĐẢO, THAM NHŨNG, THAM DÂM TRÀN LAN THÌ THỰC TẾ KHÔNG BỊ TRỪNG TRỊ LÀ DO CÕI ÂM CŨNG MUỐN CÕI DƯƠNG PHẢI ĐIÊU TÀN VẬY, DO ĐÓ ĐẤT NUOC NGÀY CÀNG ĐẢO ĐIÊN, CƯỚP CỦA GIÊT NGƯỜI.

    Ở PHẦN ÂM THÌ BỌN PHÁ HOẠI CON NGƯỜI GHÊ GỚM NHẤT CÓ LẺ LÀ BỌN QUAN XÃ, QUAN ĐỊA PHƯƠNG(PHẦN ÂM), VÌ CŨNG GIỐNG TRÊN DƯƠNG TRẦN, BỌN QUAN PHƯỜNG QUAN HUYỆN LÀ CƯỚP BÓC THAM NHŨNG, TÀN HẠI DÂN GHÊ NHẤT, DO BỌN CHÚNG XUẤT THÂN VÔ HỌC, CHỈ TỐT NGHIỆP PHO THÔNG LÀ VÀO LÀM Ở PHƯỜNG, Ở XÃ. SAU NÀY ĐƯỢC CƠ CÁU LÊN THẬT NGUY CHO DÂN.
    NÊN Ở PHẦN ÂM THÌ BỌN NÀY CHUYÊN QUYỀN, HẠI NGƯỜI DƯƠNG RẤT LỚN VÌ CHÚNG QUẢN LÝ TẤT CẢ DÂN ĐỊA PHƯƠNG, KHU VỰC TẠI ĐÓ(TÔI CŨNG NGHE QUA MỘT SỐ VONG Ở NGOÀI BẮC KỂ CHUYỆN RẤT KHỔ CỰC SAU KHI CHẾT VÌ BỊ ÂM BINH HÀNH HẠ, HÃM HIẾP)
    VÌ Ở CÕI DƯƠNG KẺ CÓ HỌC ĐƯỢC ĐỨNG ĐẦU NHƯNG CÕI ÂM CHỈ BỌN QUAN THỔ ĐỊA THỔ CÔNG TÀN ÁC LÀ CAI QUẢN HẾT.
    NHƯ BỌN BẮC HÀ CHỦ YẾU LÀ CÓ TUONG XẤU, TƯỚNG THAM ĐỂU, NÊN KHÔNG NÊN ĐỂ THỦ ĐÔ.
    NGƯỜI VIỆT NAM NÊN MANG HẾT THÀNH HỌ NGUYỄN SẼ PHÁT ĐẠT VÌ SẼ ỨNG LỜI SẤM CỦA VUA HÙNG KHI DẶN CÁC CON,(TRONG TRUYỆN TRIỆU ĐÀ(LÀ HẬU DUE CỦA VUA HÙNG HAY LÀ NGUYỄN ĐÀ – TƯ MÃ THIÊN)).
    NẾU SỐNG Ở ĐẤT VN MANG MÀ KHÔNG PHẢI HỌ NGUYỄN LÀ KO PHẢI CON CHÁU VUA HÙNG VÀ CŨNG KHÔNG THỂ THỊNH VƯỢNG ĐƯỢC VÌ TẢN VIÊN SƠN THÁNH SƠN TINH SAU KHI CÓ CON VỚI MỴ NƯƠNG ĐÃ DÙNG LỜI NGUYỀN ĐỂ YỂM CHO CON CHÁU CỦA ÔNG.

    CÒN ĐIỀU NỮA NGƯỜI VIÊT NAM KHÔNG BIẾT LÀ DÂN TỘC ĐAU KHỔ MẤY NGHÌN NĂM VẪN CHƯA DỨT LÀ DO THỦ ĐÔ CÓ DÒNG SÔNG MÁU CHẢY QUA, E CŨNG LÀ NGHIỆP CHƯỚNG VẬY. DO VẬY MÀ NGƯỜI VIỆT VÀO NAM THƯỜNG GIÀU CÓ , ĐẤT MIỀN NAM TRÙ PHÚ NO ĐỦ.

    NÊN HỌ THƯỜNG ĐỘ TRÌ CHO NGƯỜI NGHÈO MÀ HẠI NGƯỜI GIÀU, HỌ CHẲNG QUA

    –AI NÊN XEM “CS MANG MÀU SẮC VIỆT NAM” LÀ KẺ THÙ CUẢ MÌNH:::

    1. ĐẶC BIỆT. LÀ TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG MANG HỌ NGUYỄN.
    KHAM KHẢO CÁC TÀI LIỆU CHO THẤY HỌ NGUYỄN VỚI NGUỒN GỐC TỪ QUAN LẠI SƠN ĐÔNG – TQ. BỊ ĐÀY XUỐNG NƯỚC TA TRƯỚC THỜI VUA HÙNG VƯƠNG. TRONG GIA PHẢ HỌ NGUYỄN CÓ TUYÊN TRUYỀN MỘT ÂM MƯU MUỐN ĐỘC CHIẾM MIỀN BẮC VIỆT NAM LÀM NƯỚC RIÊNG CUẢ HỌ MÌNH. ĐÂY CŨNG LÀ QUAN NIỆM RẤT PHỔ BIẾN TRONG CÁC DÒNG HỌ Ở TRUNG QUỐC THỜI CỔ XƯA. VÀ QUẢ THẬT ĐIỀU NÀY PHẦN NÀO ĐÃ LÀM GIA TĂNG DÂN SỐ CUẢ MÌNH Ở MIỀN BẮC. – MẶC DÙ HỌ NGUYỄN SAU NÀY MỚI DỰNG NGHIỆP NHƯNG Ở MIỀN BẮC LƯỢNG ĐÃ RẤT ĐÔNG BỞI VÌ TÍNH CÁCH ĐẶC TRƯNG CUẢ HỌ NÀY LÀ RẤT BỈ ỔI VÀ THÂM ĐỘC.
    SAU NÀY NÊN ĐỔI HỌ CHO TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI HỌ NGUYỄN SANG HỌ KHÁC ĐỂ ĐỒNG HOÁ HỌ NÀY.

    2. THÀNH PHẦN TRÍ THỨC – NÓI CHUNG TỪ TIẾN SỸ TRỞ LÊN. VÌ TẤT CẢ CÁC CƠ QUAN – ĐẶC BIỆT LÀ CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ KO BAO GIỜ DÙNG TRÍ THỨC ĐÚNG KIỂU NẮM QUYỀN(TRỪ TH LÀ BỔ NHIỆM TỪ TRUNG ƯƠNG)

    3. DOANH NHÂN, TƯ NHÂN LÀ THÀNH PHẦN BỊ CSVN ĐANG TÌM CÁCH ĐỂ TIÊU DIỆT QUY MÔ LỚN

    3. NHỮNG NGƯỜI CÓ TƯ DUY RỘNG RÃI KHOÁNG ĐẠT – HAY ĐÂY LÀ TÍNH CÁCH CUẢ NGƯỜI MIỀN NAM.

    4. NHỮNG NGƯỜI CÓ TƯỚNG MẠO – KỂ CẢ CÁC LÃNH TỤ ĐƯƠNG THỜI CUẢ CSVN LÚC NÀY (NHƯ ÔNG TRỌNG, O SANG, O DŨNG, Ô RỨA…) VÌ CÁC ÔNG NÊN NHỚ RẰNG ĐA PHẦN CÁC ÔNG ĐỀU KO PHẢI Ở MIỀN BẮC – TRỪ ÔNG TRỌNG, (Ô RỨA NGƯỜI THANH HOÁ CŨNG KO PHẢI Ở MIỀN BẮC). VÌ DÂN BẮC CÓ TÍNH BÀI TRỪ NÊN CS LÀ NƠI CHÚNG DÙNG ĐỂ CÔ LẬP NHỮNG NGƯỜI CÓ TƯỚNG ĐẸP, ĐỂ ĐẨY ĐI.
    VÀ NẾU CÁC ÔNG CÓ CỐ GẮNG KÉO NHỮNG NGƯỜI QUÊ CÁC ÔNG RA HN THÌ THEO NĂM THÁNG SẼ BỊ LOẠI HẾT NẾU CHẾ ĐỘ “CS” VẪN TỒN TẠI.
    CHO NÊN CÁC ÔNG NÊN NGHĨ CHO CON CHÁU HỌ HÀNG CUẢ CÁC ÔNG HƠN LÀ CHO CÁI CHẾ ĐỘ

    TỪ BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNG – TẤT CẢ QUAN CHỨC TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH PHỦ NÊN THẬN TRỌNG VÌ HỌ KHÔNG BIẾT RẰNG MỘT NGƯỜI CÓ TRI THỨC VÀ TƯỚNG MẠO NHƯ HỌ ĐƯỢC LÀM VIỆC Ở ĐÓ THÌ ĐÃ CÓ HÀNG TRĂM HÀNG NGHÌN NGƯỜI NHƯ HỌ BỊ TRÙ DẬP Ở CÁC CẤP CƠ QUAN NHỎ HƠN.

    5. TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI KO PHẢI XUẤT XỨ TỪ MIỀN BẮC.(TỪ NAM ĐỊNH TRỞ VÀO)
    ĐƠN GIẢN LÀ NẾU ĐỂ CHẾ ĐỘ NHƯ “CSVN” TỒN TẠI VỚI HÀNG LOẠT TIÊU CỰC, KO CÓ VĂN MINH, KO CẠNH TRANH, BÈ PHÁI LẤN LƯỚT, KO DÂN CHỦ THÌ CŨNG QUAY LẠI THỜI KỲ PHONG KIẾN – NƠI MÀ CHA ÔNG HỌ PHẢI BỎ XỨ MÀ CHẠY VÀO MIỀN XA HƠN. THÌ CON CHÁU CUẢ HỌ CƠ HỘI ĐỂ SỐNG CHUNG VỚI DÂN BẮC LÂU DÀI CŨNG LÀ = 0

    6. QUÂN ĐỘI VIỆT NAM.
    HỌ NÊN BIẾT RẰNG QUÂN ĐỘI THƯỜNG XUẤT PHÁT TỪ TẦNG LỚP THẤP CUẢ XÃ HỘI (CHẲNG HẠN TRƯỜNG HỌC VIỆN QUÂN SỰ LÀ NƠI NHỮNG NGƯỜI XUẤT THÂN NGHÈO), NƠI XUẤT THÂN CUẢ HỌ THƯỜNG LÀ THÀNH PHẦN DO SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG CUẢ XH MANG ĐẾN. TRONG CHẾ ĐỘ CSVN NHIỀU THỊ PHI , THAM NHŨNG BÈ PHÁI THÌ NHỮNG NGƯỜI XUẤT THÂN TỪ QUÂN ĐỘI THƯỜNG LÀ CON CHÁU CUẢ NHỮNG NGƯỜI BỊ BẤT CÔNG NGHÈO HÈN MANG LẠI. NẾU KHÔNG PHẢI LÀ HỌ MUỐN MỘT XH VĂN MINH HƠN, DÂN CHỦ HƠN, CÔNG BẰNG HƠN THÌ CÒN LÀ AI NỮA NHỈ ???
    tui co y kien; MÀ 6 ÔNG TRÊN KO LÀM NGAY ĐI, ĐỢI BỌN DÂN BẮC NÓ NGỬI THẤY THÌ NÓ TRÙ DẬP CÔ LẬP NGAY NHỮNG THÀNH PHẦN KHÔNG THUẬN VỚI NÓ ĐẤY
    bai viet rat gia tri

    Đa số doanh nghiệp bây giờ đều có môi trường làm việc căng thẳng, nó không hẳn xuất phát từ công việc mà lại từ những đồng nghiệp không mấy lễ nghĩa, không biết cư xử.
    Hãy tham khảo bài viết này.
    Click here
    Ta có thể nhận thấy những công việc mang tính đơn lẻ thì thường dễ được chấp nhận.
    Vậy thật ra cái làm cho chúng ta hay nhảy việc đó là do môi trường làm việc.
    Đó là điều mà chúng ta cần chú ý khi tuyển nhân sự, thường không mấy xét đến thời gian thử việc hay không quan tâm của nhà tuyển dụng.
    Ở đây có bài viết có thể làm cho bạn dễ hiểu hơn, tôi xin trích dẫn ra đây:

    MỘT CUỘC KHỦNG HOẢNG:

    Vậy lịch sử thế giới cho đến bây giờ với những cuộc đấu tranh đã loại bỏ được những gì?

    Về chính trị: nó đã tạo nên một nền chính trị đa đảng, đưa quyền từ một từng lớp, một nhóm người được đảm bằng chế độ thành quyền lực cho một đại diện cho nhân dân lựa chọn. Nếu trước đây chế độ quân chủ mang bảo thủ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị thì chế độ dân chủ cũng mang tính bảo thủ của nó là “phục vụ nguyện vọng của nhân dân”, mà không triệt để phụcvụ cho phát triển của đất nước và cho lợi ích của nhân dân.

    Về kinh tế: nó chôn vùi kém phát triển, cạnh tranh của chế độ cũ. Tuy nhiên nó tạo ra sự khủng hoảng lực lượng lãnh đạo, sự tiêu cực, đầu cơ thâu tóm, lập quỹ đen ủng hộ ứng viên, hối lộ đầu cơ chính trị, ám sát…, sự bất công bất mãn của đa số nhưn dân lao động diễn ra cho đến y nay, rõ ràng chúng ta vẫn đang sống trong một cuộc khủng hoảng kinh tế.

    Về con người, xã hội: Còn trong thời nay thì hầu như tất cả các họ vua chúa trên đều không còn nghe tiếng(các bạn để ý xem có đúng thế không!). .Và đương nhiên ai đã làm nên lịch sử sớm thì kẻ đó cũng bị lịch sử xóa tên sớm, chẳng vậy mà bây giờ chỉ nghe những họ như Nguyễn Văn, Trần Văn.. chứ không thấy ( ha huy,lê bá,trần trọng,lê xuân,đào duy,ngo thi, nguyen đức, quang,tan,ngoc…) hay là ngô đình(diệm),nguyễn cao và…, chính là do dân thủ đô cục bộ ghen ghét tiểu nhân là vậy, bây giờ người ta hây nói ông này là con cháu ông nầy mới đực lên đó đó, là con ông nầy thời hđộng ở vùng đó, đó là để lừa bịp xh thôi,để là có tiếng nhớ ơn,uống nước nhớ ngùn, nhưng thực ra thì chẳng có con cháu thực sự của ông nào được ngóc đầu lên được đâu,mà ngực lại bị vùi dập hết tận gốc dòng dõi lđ đấy thôi,vì làm gì mà chẩng biết lý lịch rõ của từng người. Cho nên những nhà lãnh đạo cả thời xưa lững thời n đều luôn muốn gieo vào công chúng hình ảnh đẹp, ghi vào sử xanh nng trang sử đẹp (mà cũng có thời không có chép sử hay chép sử rất chung chung, cách sử cũng rất khác ngày xưa đó là cách kể tích, sự là triều phong kiến, chép sự kiện của các nhân v là chủ yếu, đó là cách chép đúng vì lịch sử là dùng để đối chiếu, dùng làm gương cho thế hệ sau)về mình nhưng họ đâu có biết cái điều đó đâu quan trọng bằng cái tôi, cái đố kị,tham lâm,ghen ghét của con người, của bọn tiểu nhân. Điều mà người ta sợ nhất là bị nêu tên, bị bia miệng thế gian đồn thổi, nếu thế thì công danh tạo ra làm gì để con cháu sau này chẳng bao giờ ngóc đầu lên được, trong khi những hiền tài còn để lại ấn tuợng xấu, đố kị của dân chúng, thì cái quyền danh mà họ có được sẽ chỉ là cái họa sau này cho con cháu họ gánh chịu,những tham nhũng lãng phí thất thoát, hối lộ tham ô, sai lầm về đường ối, chính sách, tiêu cực tràn lan…thì là khó xóa được. Và hầu như người dân thì chưa từng hayrất, rất khó để tôn thờ vị lãnh đạo nào(chỉ là hình thức), đa số lãnh đạo họ đều ..”khắc cốt ghi tâm”(ghi nhớ trong lòng), mà cũng giản chí ít thì theo họ kẻ lãnh đạo là kẻ đã biết đấu đá để làm lãnh đạo. Lại nói vì ở triều đại trước người ta còn dùng quan lại tài giỏi, trung hiền, biết cư xử, có lễ,có tâm có tình có nghĩa để bảo vệ xã tắc, ni vàng của họ,(còn tiến sĩ thì mot khóa lấy rat đông nhưng chỉ môt ít là đuợc dùgn!!! nên đâu phải ở giỏi hay dốt đâu) còn khi là quyền lực là của chung, không phải phục vụ cho dòng họ của mình thì họ cũng chẳng muốn nghe những người giỏi hơn mình làm gì, điều đó chắc dễ hiểu, kẻ tiểu nhân bắc hà chỉ có thể sống chung với những kẻ dốt hơn họ nhưng nó ko bik rằng đó là nó đẩy người quân tử mà thu nạp tỉu nhân. Do đó mà những nơi như xa lánh cơ quan quyền lực lại thường có nhiều người tài, người hiền nhân nghĩa, bị đẩy đi, vì ở chốn kinh kỳ tiểu nhân,ám muội bao giờ cũng nhiều mặc dù thời phong kiến có sự chọn lọc quan lại rất kỹ lưỡng, thường là theo những dòng họ có đạo đức có nhân nghĩa…chắc chỉ có công ty nước ngoài là đất sống cuối cùng của hiền tài(vì bọn nhà nước kinh đô sẽ ko bao giờ dùng người quân tử mà chỉ có bọn tiểu nhân để cùng nhau đớp)vì sao Hà nội bây giừ khó sống hơn là vậy(còn chưa nói đến con trai Bắc hà có tướng ..quỷ, tướng cục bộ,tướng đỉu,tướng vô tâm vô tình, câu này nói nhà MInh đi sứ để anh Vương Trí Nhàn ta thán mãi) nên muốn tốt đẹp tốt nhất là hãy ghi tên, lý lịch.. tất cả những quan lại và những việc làm của họ trong thời gian làm quan, công khai cho người dân, sĩ tốt đều biết . Và đương nhiên một khi những người hiền tài, quân tử “đều ra đi hết”(đặc biệt với lối sống kiểu chung củi thổi cơm, người tốt kẻ xấu vào một thùng..) thì những người còn lại trong xã hội(chắc chỉ là bọn tiểu nhưn vô tình nghĩa,giả nhưn nghĩa,bừn tiện những người không thấy có tên trong thời phong kiến(thực ra giỏi thì chẳng ai hơn ai vì zậy mà ngày xưa tiến sĩ cử nhân tuy nhìu nhưng chỉ vài người là được dùng là do có đức, có nghĩa, là quân tử đó) không được tin dùng) cũng khó có thể sống với nhau một cách vui vẻ được, cho nên tiêu cực từ đây mà phát sinh, tràn lan, là cái lò dung dưỡng cái xấu, tiểu nhân,hãm hại, ám sát ám muội,âm mưu, thích thủ đoạn’, dày mặt, trì trệ, cực đoan,tham lam,vô tâm,vô nghia, phản bội,tiểu nhân, ám muội,phá hoia là cỗ máy nghiền nát, CỤC BỘ GANH TỊ, VÔ ĐỐI, trù dập, choi khăm,sĩ nhục,cô lap người giỏi, người hiền. người tài… đó cũng là một khủng hoảng trong cuộc sống,ở đây tiêu cực = loại người + thể chế.

    RÕ ràng đây là một cuộc khủng hoảng xã hội. – nó thực sự cũng ko cùng dân tộc đâu mặc dù mang tiếng là dân tộc kinh. Vì tộc Kinh ở miền Bắc vN theo sử TQ có nói là sự hình thành từ 9 nguồn dân di cư khác nhau từ các vùng Châu Á thời tiền cổ – Hạ, Thương . Tui chỉ nhớ có nói họ Nguyễn có tổ từ San Đông -tq bị đày sang, một phần nhỏ từ các quan lại phạm tội ác bị bắt phải đổi

    Về văn hóa:rõ ràng văn hóa chỉ thay đổi khi thể chế chính trị thay đổi, có tính bài bác tư tưởng của hình thái văn hóa cũ. Chính vì vậy mà ở người Mỹ, người phương Tây đã nhanh chóng xuất hiện văn hóa thực dụng sau cuộc cách mạng tư bản. Văn hóa theo nghĩa của nó không gì khác là sinh ra trong cuộc sống, từ cách nghĩ thói quen của con người, không thể có thể chế nếu không có con người thể chế đó. Và để phục vụ cho thể chế chính trị gì hay hơn là tạo ra văn hóa, cho nên mỗi thể chế đều tôn thờ (những danh nhân) chính trị tư tưởng của nó. Chính thể chế lại thể hiện ngay trong văn hóa của nó, như ở Mỹ và các nước phương Tây thì bầu cử được coi như một nét rất đặc trưng, cái gì cũng hỏi ý kiến, lấy số phiếu người dân. Vậy văn hóa này rõ ràng đã đáp ứng t lớn làm giải phóng tinh thần cho con người rất lớn, nhu cầu của họ được thõa mãn xem như tối đa. Nhưng nguy hiểm là nó đã tạo ra một xã hội mỵ dân,cải lưông,sợ bị đối lập chjir trích,bao che cai xau,tảng băng hối lộ tham nhũng ngầm để tô cái vẻ bình thường ,tốt đẹp giả doi mà dân đen khó biet. Hầu hết các cuộc bầu cử ở Mỹ đều đem ý nguyện, mong muốn của người dân, họ thậm chí dùng nhiều thủ đoạn để lấy lòng dân, bêu xấu, công kích.. kể cả nó đi ngược lại lợi-ích-tích-cực cho đất nước. Rồi kết quả của những cuộc bầu cử đó là những kẻ thống trị bất tài, những thần chiến tranh, những xicangdan…Ở đây chúng ta thấy rằng tầng lớp thống trị bao g muốn dùng văn hóa, lý luận để dụ dỗ dẫn dắt người dân, và văn hóa chính là thứ độc hại nhất, sức mạnh của chúng là đáng sợ, nguy hiểm nhất. Và văn hóa khi đã khủng hoảng là sự chấm dứt của chế độ.

    Vậy cái gì đang làm nên cuộc khủng hoảng này hay là tiến trình lịch sử thế giới sẽ đi về đâu và đâu là phải pháp, đâu là biểu hiện khi một chế độ tốt đẹp xuất hiện?
    Chỉ đơn giản câu này nên hỏi anh Khựa, cái mà mấy anh Khựa muốn tạo ra là một xã hội hài hòa, mà ở đó mọi tầng lớp, mọi loại người đều thở được, lấy tập trung quyền lực làm giai đoạn đảm bảo phát triển xã hội hài hòa, tạo hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế tư nhân, không can thiệp kinh tế, mọi thành phần đều có cơ hội phát triển của mình, chỉ đảm bảo an ninh quốc gia, âm mưu chia rẽ lật đổ

    Lại nói thêm một điều quan trọng ảnh hưởng đến lịch sử nhân loại nữa!!
    Đó chính là “cơ trời”, ví dụ ta thường nghe “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”, hay”mệnh trời số trời”, “lộc dòng họ một đời sáng sẽ hết phần con cháu”,đúng vặy thực ra thì mọi điều sau đấy đều có sự giúp đỡ của các thần,vậy mà tại sao ngày xưa Cao biền sang miền Bắc việt nam đã nhìn thấy “nước nam có rất nhiều thần(chưa nói đến long mạch)”, chính thì đấy mà họ Cao đã dùng các phép bùa chú ví dụ như giết con gái để dẫn dụ các thần đến muốn hành lạc sẽ chém cả đôi, hay làm phép để phá núi tản viên là nơi trú của thần Long Đỗ… Thế đấy mà sau này Cao Biền đã chết trên đường về, hiện còn miếu thờ ở gần biên giới là do thần Long Đỗ trả thù, điều này đã được nói trong Lĩnh nam chích quái. Có thể nói Bắc Việt mấy nghìn năm người tàu không đánh được đó chẳng phải là do sao chiếu mệnh hay tính cách quật cường mà là sự hỗ trợ của các vị thần, linh, do đấy mà Nguyễn Trãi cũng nhắc đến trong cáo Bình ngô, do đấy chỉ cần dân ta nổi lên thì hầu hết đều thắng ròn rã. Thực ra thì không có “thiên cơ” mà chỉ có “thần cơ” vì lịch sử thế giới hay lịch sử nước ta đều phát triển các triều đại cũng nối tiếp nhau theo nguyên lý hạ dân thay quan lại, nào được thần linh phù trợ thì thắng(như ngn ánh thờ bà trời) Lý Thường kiệt có Trương Bẩy,Trương Ba(tướng b triệu),đó những tích có sách vở ghi lại.Kẻ mạnh,kẻ sang,giàu co lại khó lấy lòng thần linh , phái âm, ma quỷ, thế lực âm thường bị ghen ghét với cõi duong là vậy, do đấy Hà nội được gọi là đất thiêng,tướng ngu sau này sang miền Bắc thường dùng sức mà đánh nên thường đại bại,cũng may là chỉ có một Cao Biền.!!! Thần linh, ma quỷ do tính duy chí nên cũng có lúc phò tá nhầm người là vậy, cho nên lịch sử việt nam tuy thắng ngoại bang nhưng các triều đại kéo nhau nắm quyền cũng chỉ là những mục nát,sách nhiễu dân,đục khoét của nhân dưn mà thôi.Cũng may mỗi lần thối nát đến cũng do tính bức bách cùng cực mà nhưn dân đứng lên nhưng cũng chưa tìm thấy ánh sáng là vậy, nó chứng tỏ là không hề có “thiên cơ”, cái mà người ta nói số mệnh chỉ trong một giai đoạn lịch sử ngắn mà thôi vậy.

    Bình luận bởi vntop | Tháng Sáu 4, 2012 | Phản hồi


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s