Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN – CẦN ĐẦU TƯ CẤP THIẾT CHO QUỐC HỘI

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo Tia Sáng

15-01-2015

Nhà nước pháp quyền hay pháp trị là một khái niệm phổ quát, không mang tính cá biệt đối với bất kỳ thể chế hay mô hình nhà nước nào, nội hàm mang ít nhất 3 dấu hiệu: (1) có luật, (2) có toà án độc lập, (3) mục đích nhằm buộc nhà nước phải bảo đảm lợi ích quyền tự do cho từng cá nhân. Luật do quốc hội lập pháp làm ra, vì vậy đầu tư cho quốc hội đủ năng lực đảm đương là nền tảng tiên quyết, điều kiện cần của một nhà nước pháp quyền.

*Phần I Số lượng luật

Một khi luật là dấu hiệu của một nhà nước pháp quyền, và nếu thừa nhận xã hội vận động phát triển không ngừng, thì số lượng luật càng nhiều bao nhiêu, nền tảng pháp lý cho sự vận động đó càng vững chắc bấy nhiêu, nếu mọi yếu tố ảnh hưởng khác tương đương. Thống kê năm 2014, với 2 kỳ họp thứ 7 và 8, Quốc hội khoá XIII nước ta đã thông qua tổng số 29 luật, tăng hơn gấp đôi so với 17 luật năm trước đó, đánh dấu thành tích cố gắng vượt bậc của cơ quan lập pháp nước ta giữa 2 năm.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Tháng Một 17, 2015 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG VÀ HỘI NHẬP TƯ PHÁP QUỐC TẾ

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo Basamnews

18-07-2014

*Phần I: Quyền luật định, quyền án định, và quyền thực tế

Tranh chấp Việt-Trung liên quan tới biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa bùng phát, khi ngày 1.5.2014 Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trong vùng biển đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý của Việt Nam. Cả hai bên đều dẫn liệu lịch sử, các công ước quốc tế, văn bản giữa 2 nước, viện đến Liên hiệp quốc, trù bị tới toà án, để bảo vệ quyền chủ quyền của mình, đòi bên kia chấm dứt. Quyền đó vì vậy thuộc phạm trù pháp lý, phân theo quy trình giải quyết tranh chấp, gồm có: „quyền luật định“, „quyền án định“, và „quyền thực tế“. Có thể hiểu ba khái niệm trên qua vụ tai nạn ô tô đâm ngược chiều gần đây ở Đức: Hai xe chạy ngược chiều nhau tốc độ 75-81 km/giờ, tới đoạn đường hẹp chỉ 4,56 m, có phân luồng, xe thứ nhất lấn sang luồng xe thứ 2, đâm nó gây tai nạn. Hai bên tranh cãi nhau, xe thứ hai viện dẫn luật giao thông khẳng định mình có quyền chạy trong phạm vi luồng mình, đòi bên kia bồi thường. Xe thứ nhất, cũng viện dẫn luật giao thông quy định tài xế còn phải căn cứ vào tình trạng giao thông để tránh nhau; phần luồng họ quá hẹp phải tránh cây ven đường nên họ có quyền lấn, từ chối bồi thường. Tiếp tục đọc

Tháng Bảy 19, 2014 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , , | %(count) bình luận

CẢI CÁCH THỂ CHẾ KINH TẾ, VĨ MÔ HAY VI MÔ?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng

Cải cách thể chế kinh tế là một khái niệm kinh tế chính trị học liên quan đến sự vận hành  của nhà nước đối với mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, không phải bây giờ mới xuất hiện; nhưng ở ta đặt ra ngày càng bức bách, thu hút cả nước sôi sục quan tâm, bởi nền kinh tế đang phải đối mặt với bao nguy cơ bất ổn đe doạ, kèm vô số hệ lụy lên mọi mặt đời sống, xã hội, đạo dức, văn hoá, y tế, giáo dục…vốn cũng chỉ có thể giải quyết được trên nền tảng kinh tế; đúng như Mác đã nói, một khi thực tế không thể giải quyết thì phải quay trở lại xem xét những nguyên lý đã đẻ ra nó, mà mấu chốt hiện nay được hầu hết giới học giả, chính khách thừa nhận chính là vấn đề thể chế.

Mô hình kinh tế

Nói đến thể chế kinh tế không thể không bắt đầu từ hai mô hình kinh tế cơ bản được khoa học kinh tế phân loại thành “kinh tế thị trường” theo đuổi mục đích lợi nhuận và đối lập với nó là “kinh tế quản lý tập trung” hay “chỉ huy” nhằm hoàn thành kế hoạch nhà nước đặc trưng ở các nước khối xã hội chủ nghĩa. (Để tránh “kị húy” hoặc ngộ nhận tưởng có mối quan hệ một một giữa bốn khái niệm “kinh tế chỉ huy”, “chủ nghĩa xã hội”, “doanh nghiệp nhà nước”, “đảng cộng sản”, cần biết rằng, nền kinh tế chỉ huy không chỉ ở các nước xã hội chủ nghĩa mà có ở không ít nước. Cũng không phải cứ đảng cộng sản tham chính hay chấp chính là nền kinh tế mang mô hình quản lý tập trung, bởi thế giới hiện đại hầu như nước nào cũng có đảng cộng sản, hoặc tham chính hoặc chấp chính tại nhiều quốc gia; ngay cả những nước đứng đầu như Đức, Đảng Cộng sản tham gia chính phủ hai tiểu bang. Doanh nghiệp nhà nước cũng vậy, không phải đặc trưng riêng có của chủ nghĩa xã hội mà có ở mọi quốc gia). Để đạt mục đích nói trên, nền kinh tế thị trường có dấu hiệu đặc trưng sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh, phân phối theo lợi nhuận (thị trường chỉ là khái niệm khoa học chỉ hoạt động tự do mua bán hiểu theo nghĩa chuyển quyền sở hữu từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác); ngược lại nền kinh tế quản lý tập trung dựa trên nền tảng công hữu tư liệu sản xuất (các doanh nghiệp cũng mua bán nhưng không thay đổi chủ sở hữu vẫn là nhà nước, nên không gọi là thị trường), do nhà nước trực tiếp điều hành theo kế hoạch từ trên xuống, phân phối theo lao động. Bên cạnh đó còn mô hình kinh tế biến thể từ hai mô hình cơ bản, cũng dựa trên công hữu tư liệu sản xuất nhưng doanh nghiệp tự chủ, áp dụng ở Nam Tư cũ (lúc đó được gọi là “chủ nghĩa xét lại”). Từ thập niên 90 xuất hiện thêm mô hình biến thể, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc hay định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Sự xuất hiện các biến thể đó là do hai mô hình kinh tế cơ bản trên chỉ mới là điều kiện cần, con người chọn lựa hay không, hay tìm tòi những mô hình khoa học mới là do lợi ích nó mang lại cho con người quyết định, tức điều kiện đủ. Lợi ích kinh tế trước hết nằm ở hiệu quả, được Mác khái quát, năng suất lao động là thước đo tính ưu việt của hình thái kinh tế xã hội này đối với hình thái kinh tế xã hội khác, có nghĩa mô hình chỉ là phương tiện phục vụ cho lợi ích con người chứ không phải ngược lại. Việc Việt Nam và Trung Quốc buộc phải chuyển dổi mô hình cũng không ngoài lý do lợi ích.

Nhưng mô hình kinh tế nào cũng gắn với chính thể quốc gia đó vốn quyết định phân phối lại thu nhập quốc dân. Chính vì thế, như ở Đức, được bao hàm trong khái niệm hiến định “chính thể Đức là một nhà nước liên bang dân chủ, xã hội”, nền kinh tế Đức đương nhiên mang nội hàm mặc định “nền kinh tế thị trường, xã hội” hiểu theo nghĩa vừa bảo đảm cho bất cứ ai cũng có cơ hội kinh doanh trở thành “tỷ phú”; nhưng vừa bảo đảm tài lực cho an sinh và phúc lợi toàn dân; bất cứ ai kể cả người nước ngoài được quyền sinh sống ở Đức sinh con đều có lương con; thai nghén, chửa đẻ, chăm con nhỏ được nghỉ việc hưởng trợ cấp; thất nghiệp; ốm đau, tai nạn nghề nghiệp, về hưu có bảo hiểm trả; bất kỳ người dân nào không có hoặc kém thu nhập đều được nhà nước bảo đảm đời sống cơ bản (nghĩa là mức bình thường) về ăn, ở, nuôi dạy con cái, học hành, đi lại, chữa bệnh.., nếu không sẽ bị họ kiện ra toà chế tài nhà nước phải thực hiện. Vì vậy, ở Đức không ai không có chỗ ở, bị bỏ đói rách thiếu thốn, ốm đau, thất học, thiếu điện nước, lò sưởi, phương tiện đi lại cần thiết…, ngoại trừ chính họ dùng tiền trợ cấp đó vào mục đích khác như rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, xì ke, ma túy…

Còn nước ta hiện đã hiến định mô hình “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa“. Cải cách thể chế kinh tế ở ta vì vậy chính là tạo lập hành lang pháp lý bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo đúng mô hình cơ bản của “nền kinh tế thị trường” (vốn là một khái niệm phổ quát dù tính chất gì); trên nền tảng đó bảo đảm mục đích tốt đẹp “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” cũng chính là nội hàm của khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa” đi kèm trong hiến pháp mang tính chế tài đối với nhà nước. Cải cách đó vì vậy thuộc tầm cấp vĩ mô, trách nhiệm hiến định của Đảng, nhà nước, quốc hội, chính phủ, trước nhân dân; quyết định sự tín nhiệm của từng người dân (tổng hợp lại chính là chủ nhân đất nước) đối với chính thể (sẽ được bàn tới ở một chuyên đề khác).

Mô hình doanh nghiệp

Tuy nhiên, nền kinh tế như một cơ thể sống, dù thuộc mô hình nào, cũng bao gồm các tế bào doanh nghiệp tương thích hợp thành. Nên vấn đề cải cách thể chế kinh tế không thể thành công, nếu chỉ mỗi ở cấp vĩ mô, mà trước và trên hết, có bột mới gột nên hồ, phải cải cách chính tế bào xây dựng nên nó tạm gọi là cải cách vi mô, không thể bê y nguyên doanh nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa xưa nay đặt vào mô hình kinh tế thị trường, hay chỉ cần bổ sung doanh nghiệp các thành phần khác là đủ; giải thích tại sao nước ta chưa được thế giới thừa nhận nền kinh tế thị trường, không phải do con số doanh nghiệp nhà nước mà do bản chất doanh nghiệp nhà nước không thay đổi, phải chịu chật vật trong các đàm phán hiệp định kinh tế thế giới.

Xuất phát từ mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm đảng và nhà nước điều hành kinh tế thông suốt theo chiều dọc từ trung ương tới điạ phương, theo chiều ngang bộ ngành, doanh nghiệp nhà nước mô hình trên được hành chính hoá trở thành một bộ phận của các cấp hành chính: cấp I (thuộc trung ương), cấp II (tỉnh thành), III (huyện), chịu sự điều khiển của chính quyền các cấp này, đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ mô. Từ đó, sự vận hành bên trong doanh nghiệp cũng phải tuân thủ nguyên tắc quản lý nhà nước (được dạy trong các giáo trình kinh tế cơ bản) như “thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế”, “tập trung dân chủ”, “kế hoạch hoá”, “phân phối theo lao động”…Các nguyên tắc vận hành đó tự động đặt vai trò, trách nhiệm quyết định kinh doanh lên đảng, nhà nước, công đoàn, đoàn thanh niên (gọi là “bộ tứ”). Thuật ngữ “nền kinh tế chỉ huy” không chỉ phản ảnh đặc trưng của mô hình mà cả tế bào doanh nghiệp tạo nên nó; kinh doanh bằng quyền lực nhà nước, chứ không phải bằng thị trường. Xét về mặt khoa học, doanh nghiệp vận hành như vậy hoàn toàn đúng với mô hình kinh tế quản lý tập trung đã được khoa học phân loại.

Tuy nhiên xét về lợi ích, doanh nghiệp vận hành như thế đã biến lãnh đạo doanh nghiệp trở thành công chức nhà nước vốn có trách nhiệm nhất nhất chấp hành chỉ thị cấp trên, nghị quyết đảng ủy; bù lại, trách nhiệm pháp lý cá nhân đối với kết quả kinh doanh cùng các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, vốn đóng vai trò quyết định số phận tương lai sống còn của doanh nghiệp, họ được lợi không phải gánh chịu hoàn toàn, ngoại trừ cá nhân họ vi phạm hình sự. (Một mô hình bù trừ như vậy được gọi là cân bằng, có thể tồn tại vĩnh cửu, chỉ thay đổi một khi vị trí cân bằng đó thay đổi bởi một cú hích nào đó). Vụ án Dương Chí Dũng là một điển hình, nếu không bị cáo buộc tham nhũng thì cũng chẳng mấy hề hấn dù kinh doanh ụ nổi gây thiệt hại cho Vinashin tới cả chục triệu đô la bởi nó được thông qua mọi cấp lãnh đạo liên quan; so với trường hợp tập đoàn Enron Mỹ phá sản, Jeffrey Skilling Tổng Giám đốc tại vị phải bồi thường tới 45 triệu đô la (gấp hơn bốn lần trị giá thiệt hại ụ nổi). Bộ máy nhân công doanh nghiệp cũng hưởng lương theo ngạch bậc như công chức từ cấp thấp lên cao, không tùy thuộc kết quả kinh doanh, mặc dù chính họ quyết định nó. Bù lại, hiện tượng “sáng cắp ô đi tối cắp ô về” chính là sản phẩm công chức hoá hoạt động doanh nghiệp, chứ không hẳn họ thiếu năng lực hay đạo đức kinh doanh. Đặc biệt khi chuyển đổi sang mô hình kinh tế thị trường như ở ta hay Trung Quốc, cho phép lãnh đạo sở hữu tư nhân tài sản, doanh nghiệp, cổ phần, thì ngay lập tức từ khởi thủy vụ lợi phát triển nhanh chóng thành tham nhũng, doanh nghiệp sân sau, rút ruột công trình, dự án vô bổ… được thế bùng phát không thể kiểm soát, chừng nào thể chế đối với doanh nghiệp nhà nước vẫn như xưa nay.

Trong khi đó, xuất phát từ bản chất mô hình nhằm mục đích lợi nhuận, doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn khác (ngoại trừ doanh nghiệp công ích), không thể đóng vai trò công cụ nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô; công cụ đó là hành lang pháp lý và tài lực để thực hiện nó chứ không phải doanh nghiệp; từng doanh nghiệp chịu tác động của cả nền kinh tế, chứ mỗi mình nó rủi ro nay phất mai phá sản như Vinaschin không thể nói trước, làm sao đủ sức thay đổi cục diện để đóng vai trò công cụ điều hành. Nó cũng không có chức năng xã hội vốn thuộc nhà nước, được nó cung cấp nền tảng tài lực, trực tiếp như thuế lợi tức, thu nhập, môn bài… các khoản bảo hiểm xã hội phải đóng, gián tiếp như thuế giá trị gia tăng, bắc cầu như thuế thu nhập của nhân công doanh nghiệp. Nó là một pháp nhân độc lập, như bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào. Giám đốc đại diện chịu trách nhiệm cá nhân hoàn toàn trước pháp luật hiểu theo nghĩa bị kiện và thưa kiện khi xảy ra tranh chấp, làm việc và trả thù lao theo hợp đồng ký kết với đại diện chủ doanh nghiệp (nhà nước), tuân thủ điều lệ doanh nghiệp vốn đóng vai trò chế tài như hiến pháp đối với tổng thống, thủ tướng; không chịu bất cứ sự chỉ huy kinh doanh của bất cứ cấp hành chính nào. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa doanh nghiệp là một vương quốc, giám đốc là vua; tương tự như tổng thống thủ tướng, doanh nghiệp bị giám sát bởi các cơ quan nhà nước liên quan, do các văn bản lập pháp thích ứng chế tài. Cũng xuất phát từ chỗ sinh ra chỉ nhằm mục đich kinh doanh, doanh nghiệp cũng không chịu tác động chính trị hay xã hội, bị cấm thành lập trong doanh nghiệp bất kỳ đảng phái nào, hội đoàn gì; ngoài công đoàn để đối thoại với giới chủ (thậm chí cử người tham gia hội đồng quản trị) bởi chính họ cùng trực tiếp làm ra giá trị gia tăng, lợi nhuận doanh nghiệp. Ngạch lương nhân công được trả theo thoả thuận trong hợp đồng ký kết cá nhân hoặc tâp thể, nghĩa là phụ thuộc lợi nhuận, không phải trả lương như cho công chức do nhà nước ấn định thang bậc. Đồng lương đó tạo sức ép lên cả người trả lương lẫn người nhận phải kinh doanh có hiệu qủa nếu không sẽ bị phá sản, cả hai đều thiệt.

Một khi mô hình doanh nghiệp nhà nước chẳng khác gì tư nhân đối với nền kinh tế, thì bài toán phân công lao động tối ưu là nhà nước tập trung quản trị đất nước, còn người dân chuyên làm kinh tế.

(Xem tiếp phần II, Những thực tế đặt ra)

_______

Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

Tháng Hai 13, 2014 Posted by | Kinh tế-Đời sống | | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

QUYỀN CƠ BẢN, HIẾN PHÁP CHO MỚI CÓ?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng

Quyền cơ bản được coi là đặc trưng của một nhà nước dân chủ. Hiến pháp Việt Nam năm 1992 có 44 điều về “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 hiện nay (DTHP) có 38 điều về “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Hiến pháp Trung Quốc 1982, sửa lần cuối 2004 có 33 điều.

Quyền cơ bản là một phạm trù chính trị luật học, nội hàm bao gồm quyền công dân và quyền con người được phân thành 26 quyền: quyền được bảo vệ nhân phẩm, quyền được toà án tuyên phán, quyền bình đẳng trước pháp luật, tự do tín ngưỡng nhận thức, tự do biểu đạt ý kiến, được bảo vệ hôn nhân gia đình, bí mật thư tín, khiếu nại, chỗ ở không bị xâm phạm, sở hữu không bị chiếm đoạt, chuyển quyền sở hữu theo văn bản lập pháp, học hành được nhà nước bảo hộ, quyền cha mẹ, quyền tỵ nạn, quyền được trình bày trước toà, được pháp luật bảo vệ, được toà tuyên phán khi tước bỏ quyền cơ bản nào đó, bảo đảm trình tự pháp lý khi bị tước quyền tự do, quyền tự do lưu trú, tự do nghề nghiệp, bình đẳng tham gia vai trò lãnh đạo quản lý trong bộ máy chính quyền, tự quyết định quốc tịch, tự do lập hội, tự do hội họp biểu tình, chống lại các hành vi vi hiến, bầu và ứng cử. Tiếp tục đọc

Tháng Hai 10, 2013 Posted by | Pháp Luật-Công lý | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HIẾN PHÁP LÀ NỀN TẢNG, CÒN NỀN TẢNG CỦA HIẾN PHÁP?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng

Thế giới hiện đại coi hiến pháp là nền tảng pháp lý cho mọi nhà nước tồn tại và vận hành, bất kể là nhà nước gì, hiển nhiên như bất cứ ngôi nhà nào cũng phải có nền móng. Tới lượt nền móng lại được xây dựng trên nền tảng địa chất nào đó. Vậy Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ta hiện nay dựa trên nền tảng nguyên lý nào?

Hiến pháp nước nào cũng vậy, được xây dựng trên những nền tảng nguyên lý nhất định quyết định bản chất hiến pháp đó, được khoa học pháp lý dùng làm tiêu thức phân loại ngót 200 quốc gia trên thế giới đặc trưng bởi hiến pháp quốc gia họ. Ở các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iran, Mauretanien, Sudan, Pakistan…, hiến pháp đều dựa trên nền tảng kinh Koran. Điển hình như Hiến pháp Iran năm 1979, sửa toàn diện lần cuối năm 1989, gồm 177 điều, mở đầu: “Hiến pháp Cộng hoà Hồi giáo Iran phấn đấu tạo dựng các định chế văn hoá, xã hội, chính trị và kinh tế Iran theo các nguyên tắc cơ bản và quy ước đạo Hồi; nó phù hợp với tâm nguyện của cộng đồng Hồi giáo“. Tiếp tục đọc

Tháng Một 24, 2013 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , | %(count) bình luận

HIẾN PHÁP SAO PHẢI SỬA?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng

Hiến pháp không phải sản phẩm tự nhiên mà do con người tạo ra phục vụ lợi ích nó, tất phải thay hoặc sửa, một khi lợi ích đó đòi hỏi.

Gần đây nhất, như hầu hết mọi cuộc cách mạng xã hội, Ai Cập đã hủy bỏ Hiến pháp năm 1971 thay bằng Hiến pháp mới có hiệu lực từ ngày 26.12.2012, sau khi lật đổ chế độ Mubarak. Hiến pháp là văn bản luật gốc làm nền tảng pháp lý cho một nhà nước, quy định bộ máy của nó, cùng các chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự nhà nước phải tuân thủ, nên một khi chế độ bị lật đổ buộc phải thay bằng hiến pháp mới, là tất yếu. Ở đây, Hiến pháp là hệ qủa của cách mạng xã hội. Tiếp tục đọc

Tháng Một 16, 2013 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHÀ NƯỚC VÌ DÂN NHƯ THẾ NÀO?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng

Thời đại ngày nay, bất cứ chính quyền nào do dân dựng lên đều vì dân cả, nhưng đó chỉ mới điều kiện cần, tức tiền đề, muốn biến thành hiện thực nhà nước đó phải có khả năng thực hiện, tức điều kiện đủ, vốn hoàn toàn tùy thuộc ý chí người dân cùng thiết chế bộ máy nhà nước đó.

Lúc 1 giờ sáng, ngày 17.6.2012, tại thành phố Leipzig, Đức, hàng xóm trong một chung cư phát hiện có mùi lạ nồng nặc từ căn hộ 2 phòng tầng trệt tràn ra cầu thang, liền gọi điện khẩn cho cảnh sát và cứu hoả tới. Phá cửa vào, đập vào mắt họ một thảm cảnh thương tâm, xác đứa con trai Kieron-Marcel 2 tuổi gục mặt vào xác người mẹ Christin F, 26 tuổi, nằm còng queo trên lối vào phòng khách, lâu ngày đang thối rữa. Cảnh sát lập tức phong toả hiện trường điều tra án mạng. Tiếp tục đọc

Tháng Tám 18, 2012 Posted by | Chính Trị-Xã Hội | | %(count) bình luận

ĐẤT ĐAI, NGUYÊN LÝ VÀ THƯỚC ĐO THỰC TẾ

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, trích từ basamnews

22-06-2012

Đất đai bất ổn tranh chấp chiếm tới 70% người dân khiếu kiện, lên đến đỉnh điểm đối đầu với chính quyền điạ phương như Văn Giang, Tiên Lãng, được Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Nguyễn Bắc Son cho rằng: “Luật không sai mà tổ chức thực hiện sai“ có thể gây ngộ nhận, mọi trách nhiệm thuộc về cơ quan hành chính thực thi. Luật sinh ra không phải chỉ để chế tài người dân, mà quan trọng hơn, cả cơ quan công quyền tham gia vào mối quan hệ luật pháp đó, cả hai phải tuân thủ những quy phạm, chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự định sẵn, nhằm mục đích tối thượng bảo đảm lợi ích cho người dân vốn là chủ nhân đất nước. Vì vậy, chừng nào lợi ích đó chưa bảo đảm thì chừng đó, không riêng gì tổ chức thực hiện, toàn bộ quy trình từ soạn thảo, thông qua, ban hành, thực hiện, áp dụng, đều phải xem lại; thực trạng bất ổn tranh chấp đất đai tới mức hiện nay càng đặt ra đòi hỏi bức bách đó. Tiếp tục đọc

Tháng Sáu 23, 2012 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , | 2 phản hồi

HIẾN PHÁP VÀ QUYỀN CHẤT VẤN CHÍNH PHỦ

TS Nguyễn Sỹ Phương*, theo Tia Sáng

Đề án “tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động Quốc hội“ với đề xuất, “Quốc hội sẽ tăng cường hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn“… may mắn ra đời đúng vào giai đoạn sửa đổi Hiến pháp. Bởi quyền và khả năng chất vấn chính phủ hoàn toàn do Hiến pháp định đoạt, một khi không giải quyết được từ nền tảng gốc rễ này, thì đề án có đặt ra mục tiêu cao cả, biện pháp thần kỳ tới mấy, cũng không thể vượt qua giới hạn Hiến pháp cho phép, tức không khả thi, giá trị chỉ như một bản luận án khoa học thuần túy. Tiếp tục đọc

Tháng Năm 24, 2012 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , | %(count) bình luận

LUẬT PHÁP VÀ NHÂN DÂN, NHÌN TỪ CƯỠNG CHẾ ĐẤT ĐAI

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo BVN

Vụ cưỡng chế thu hồi 5,8 ha đất của 166 hộ dân Xuân Quan, Văn Giang, sử dụng tới ngàn nhân viên công lực, tỷ lệ áp đảo 6-7 nhân viên công lực / 1 đối tượng cưỡng chế, kéo dài từ 7 giờ sáng tới 11 giờ trưa, được Phó Chủ tịch tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Khắc Hào báo cáo trước Thủ tướng là đã “hoàn thành” và “đúng luật”, mà không hề tự đặt ra bất cứ một câu hỏi nào day dứt về trách nhiệm chính quyền điạ phương đối với lợi ích, số phận sống còn, mưu sinh của 166 hộ dân bị cưỡng chế, vốn cũng là nhân dân; không thể không đặt ra câu hỏi: chẳng nhẽ chính quyền sinh ra cứ miễn hành xử đúng luật là xong? Hay 166 đối tượng cưỡng chế không thuộc nhân dân? Cách đây 22 năm, năm 1990, Helmut Kohl, Thủ tướng CHLB Đức lúc đó, long trọng cam kết, nước Đức tái thống nhất sẽ không có một người dân Đông Đức nào cuộc sống thấp hơn trước. Tiếp tục đọc

Tháng Năm 21, 2012 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Kinh tế-Đời sống | , , | %(count) bình luận

QUYỀN SỞ HỮU ĐẤT ĐAI TRONG HIẾN PHÁP 1992 SỬA ĐỔI?

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo Tia Sáng

Việc hạn điền hết vào năm 2013 sau 20 năm sử dụng đất nông nghiệp hiện chưa có tiền lệ giải quyết, đang trở thành nan đề sừng sững trước mắt cả người dân lẫn chính quyền, liên quan trực tiếp tới 3 phạm trù luật học: Hiến pháp, Đất đai, Quyền sở hữu, trong 3 mối quan hệ, Hiến pháp – Đất đai, Hiến pháp – Quyền sở hữu, Quyền sở hữu – Đất đai. Tiếp tục đọc

Tháng Ba 20, 2012 Posted by | Pháp Luật-Công lý | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

NHÀ NƯỚC CÓ TIM?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo BVN

Từ trước Tết Nhâm Thìn tới nay, ở ta sự kiện Tiên Lãng cưỡng chế gia đình anh Đoàn Văn Vươn bị dư luận lên án sôi sục chưa từng có, đang hừng hực từng ngày, chưa thể lường trước hồi kết, thì ở Đức một sự kiện chấn động tương tự, cuộc đấu tranh nóng bỏng tại Tiểu bang Niedersachsen đòi quyền ở lại cho một gia đình người Việt, sống ở xã Hoya, bị cưỡng chế về nước 3 tháng trước gây phẫn nộ dân chúng, bất bình chính trường, hội đoàn phản đối kịch liệt, sau 83 ngày đã kết thúc thắng lợi. Tiếp tục đọc

Tháng Hai 11, 2012 Posted by | Chính Trị-Xã Hội | | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

AI TRỊ ĐƯỢC THAM NHŨNG VÀ LẠM DỤNG CHỨC QUYỀN?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo Tuần Việt Nam

Ai lo lắng cho tiền đồ của đất nước không thể không trăn trở với thời cuộc, khi chỉ một quan chức cấp tỉnh như Phó giám đốc Sở GTVT tỉnh Sóc Trăng, lương tất tận chỉ dăm ba triệu đồng, nhưng đánh bạc mỗi ván cờ tới 5 tỷ đồng, nhiều gấp trên nghìn lần tiền lương. Số tiền tới nghìn lần đó lấy đâu ra, nếu không phải từ tham nhũng?

Còn nếu vay mượn thì chắc chắn phải liên quan tới chức vụ Phó Giám đốc bảo đảm. Dù lý giải từ nguồn gì đi nữa thì khoản tiền đen trên tựu trung lại đều do chức vụ mà có, nghĩa là  tham nhũng và lợi dụng chức quyền. Nghịch lý còn ở chỗ, vụ đánh bạc kéo dài nhiều năm, cơ ngơi tài sản lừng lững giữa thanh thiên bạch nhật, nhưng mãi tới lúc nợ đến 22 tỷ bị đe doạ tính mạng, phải khai báo, nhà chức trách mới biết hoặc buộc phải biết; đã thế công luận, chính trường và nhà chức trách hầu như không lên tiếng báo động cho cả xã hội, ngoài 1 vài tin tức trên báo chí. Tiếp tục đọc

Tháng Một 20, 2012 Posted by | Tham Nhũng-Lãng Phí | , | 3 phản hồi

BIỂU TÌNH LÀ Ý THỨC TỰ NHIÊN TRƯỚC ĐỒNG LOẠI

TS Nguyễn Sỹ Phương, theo SGTT 

Ngày 17.11, khi thảo luận về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XIII, dù nằm trong danh mục “chương trình chuẩn bị” (chứ không phải chính thức), nhưng một số đại biểu đã tranh luận khá gay gắt về luật biểu tình, về nguồn gốc, bản chất của hoạt động này, nhu cầu xã hội hiện nay cần – không cần một luật điều chỉnh về nó. Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Sỹ Phương, cung cấp những thông tin nền tảng về vấn đề này. Tiếp tục đọc

Tháng Mười Một 24, 2011 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TRANH LUẬN LUẬT BIỂU TÌNH DỰA TRÊN CƠ SỞ NÀO?*

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo BVN

Trước hết cần phân biệt khái niệm biểu tình với thực tế biểu tình muôn hình vạn trạng, nếu không sẽ như thầy bói xem voi, sờ thực tế cái tai định nghĩa ngay voi là cái quạt. Ngoại diên của khái niệm biểu tình là nhiều người tập trung lại theo nghĩa tập họp, tụ tập. Nhưng khác với tụ tập để lao động trong nhà máy vì mưu sinh, hay hội hè để vui chơi, đám ma đám cưới chia sẻ tình cảm gia đình, bán buôn trong chợ búa kiếm lời, hoặc bị tống tù do phạm tội, tụ tập biểu tình có nội hàm: xuất phát từ tâm, cùng nhau biểu thị tình cảm (biểu tình), thái độ, quan điểm của mình. Như vậy có 3 dấu hiệu để phân biệt biểu tình với các khái niệm khác có cùng ngoại diên tụ tập: 1- Biểu thị, 2- Tự nguyện, 3- Xuất phát từ tâm. Căn cứ 3 dấu hiệu trên, có thể xác định khi nào thì được gọi là biểu tình. Tiếp tục đọc

Tháng Mười Một 24, 2011 Posted by | Pháp Luật-Công lý | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ý CHÍ QUỐC HỘI VÀ THỰC TIỄN CUỘC SỐNG*

TS Nguyễn Sỹ Phương, (đọc bản đăng trên Tuần Việt Nam tại đây)

*Bản bên dưới đầy đủ hơn so với bản đã công bố, trích từ BVN 

Mọi quốc gia theo mô hình dân chủ nghị viện đều hiến định Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất; Việt Nam cũng không ngoại lệ, được quy định tại Điều 83, Hiến pháp 1992. Nhưng quyền lực cao nhất của Quốc hội khác với của Vua trong thể chế quân chủ, ở chỗ, Vua đứng trên Hiếp pháp và pháp luật; còn Quốc hội đặt dưới Hiến pháp do toàn dân phúc quyết, và phải tuân thủ pháp luật do chính mình ban hành. Tiếp tục đọc

Tháng Mười Một 18, 2011 Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , | %(count) bình luận