Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

Gửi bài

Xin vui lòng gửi bài bằng cách để lại comment dưới đây.

BBT Tiếng Nói Dân Chủ


Advertisements

17 phản hồi »

  1. Chào các cô các chú lãnh đạo!

    Con không biết những lời này của con có được các cô các chú để mắt tới không,nhưng con vẫn phải viết,viết một phần để giải tỏa nỗi bứa xúc,viết để chờ mong một tương lai sáng lạn cho tổ quốc,cho đất nước.Con là một người con đất Việt sinh ra trong thời bình,cuộc sống hai mươi năm trôi qua thật êm đềm,tới trười với trong đầu tư tưởng được nhồi nhét” đàng cộng sản việt nam-độc lập tự do hạnh phúc” hồi còn nhỏ con coi ba từ độc lập tự do hạnh phúc là đẹp đẽ lắm,nhưng sau này,con lớn lên,xã hội này đã cho con biết không hề có độc lập tự do hạnh phúc nào cả.Tham nhũng,đớn hèn,đàn áp dân,rồi nhiều việc làm đồi bại khác nữa,con cũng ko cần nói ra thì các cô các chú cũng hiểu,con chỉ mong rằng,thế hệ con và thế hệ sau này sẽ được sống dưới một chế độ dân chủ-tự do-hạnh phúc thực sự,vì dưới chế độ này chúng con khổ quá rồi,con xin cảm ơn.Đây là những lời từ trái tim con,một công dân trẻ dưới lá cờ xã hội chủ nghĩa.

    Bình luận bởi Dân nghèo | Tháng Hai 4, 2011 | Phản hồi

  2. Chúng ta không cam chịu
    Chúng ta sẽ vạc trần tội chúng
    Một dân tộc có bốn ngàn năm dựng và giữ nước
    Một dân tộc anh hùng bất khuất
    Ngàn đời nay luôn sản sinh ra những người con kiệt xuất
    Chúng ta đấu tranh vì công bằng văn minh xã hội vì quyền lợi dân tộc vì đời sống của nhân dân.
    Bác hồ nói :

    “các vua hùng đã có công dựng nước. bác cháu ta phải cùng nhau giữa nước”
    Vậy đến thế hệ chúng ta phải xây dựng tổ quốc giầu đẹp xã hội công bằng văn minh
    Cái nghĩa vụ cao cả đó thuộc về chúng ta
    Không thể dựa vào ai không thể chờ người khác mang đến mà chính từ chúng ta
    Tất cả những người có cùng chí hướng hãy sánh bước cùng nhau hãy lên tiếng đấu tranh chúng hãy mang về cho dân tộc ta nhân dân ta hai chữ “Dân Chủ” theo đúng nghĩa
    Vì quyền lợi của dân tộc vì những nhân dân chúng ta nguyện hy sinh vì chính nghĩa

    Để làm được điều này phải chúng ta phải tìm ra một con đường và những người đi chung với chúng ta là ai?
    Con đường phải đi cùng với xu hướng và sự phát triển của loài người.
    Phải có cạnh tranh mới có sự phát triển
    Và tất cả chúng ta sẽ làm nên cái “cạnh tranh” đó.
    Đây là lời hiệu triệu tất cả những người yêu nước ở mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước
    Chúng ta quyết tâm vạch trần và trừng trị kẻ thù mà ngay trong nước ta không để chúng Độc đoán chuyên quyền tạo dựng vây cánh bao che cho nhau tham nhũng chúng kìm hãm sự phát triểu của xã hội thất thoát tiền của của nhân dân ta thắt lưng buộc bụng bọn chúng tha hóa đạo đức chà đạp nhân phẩn con người.chúng sống nhởn nhơ trên xương máu của anh hùng liệt sỹ trên mồ hôi nước mắt của nhân dân

    Bình luận bởi Minh Tân | Tháng Hai 27, 2011 | Phản hồi

    • Tôi nguoi dan soc trang nhung toi khong thay dan chu la j hoi cac anh cac chu ngay
      22 la bau cu nhung tai saqo khap moi noi deu nghe phan anh cua ba con cu tri la nhan vien to bau cu nhu an cuop vay lay viet tren tay cu tri con tu dong tron de bo vao thung phieu voi quyet dinh cua minh bat trap cu tri phan doi ra sao. vay dan chu o dau ? toi rat that vong vi nhung anh lanh dao biet ma van lam lo tuong nhu la khong!!!

      Bình luận bởi le hong quan | Tháng Năm 23, 2011 | Phản hồi

  3. YÊU NƯỚC HAY HẠI NƯỚC

    * Phần 1: Về các cuộc biểu tình gần đây

    Tổ Quốc!
    Có phải bão giông của thời gian hay của đất trời
    đã thổi cong cả dáng hình của mẹ?
    Cái dải đất xanh mềm như dải lụa
    Mà như thành đồng trước sóng gió đại dương

    Đây là những câu thơ mở đầu cho bài thơ dài “TỔ QUỐC-NỬA BÀN CHÂN DÍNH BÙN VÀ MÁU” mà nhà văn Đông La đã viết dự cuộc thi chào đón Giao thừa Thiên niên kỷ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (năm 2000). Đã được xếp đầu trong số gần 5000 bài của cuộc thi kéo dài 2 năm, rồi được Tặng thưởng của Tạp chí năm 1998.
    Tổ quốc thân yêu của chúng ta đúng giống như một dải lụa xanh nằm bên bờ biển! Nhưng sao nó không thẳng hoặc cong đều mà lại ngoằn ngoèo theo hình chữ S? Như những gì mà nhà văn Đông La quan sát, mô tả một cách bình dị, gần gũi nhưng toát lên được những gian truân, sóng gió để có được hình hài hôm nay:
    “Tổ Quốc! Có phải bão giông của thời gian hay của đất trời đã thổi cong cả dáng hình của mẹ?”
    Bão giông của thời gian chính là bão giông của những cuộc xâm lăng, còn bão giông của đất trời chính là thiên tai vẫn ngày ngày đổ xuống đất nước. Để Tổ quốc như dải lụa nằm thảnh thơi như thế, máu của con dân đất Việt từ bao đời đã đổ. Vì thế nếu so sánh với toàn bộ lịch sử đẫm mồ hôi và máu thì những ngày hôm nay đây dù còn biết bao bộn bề trăn trở vẫn là những ngày hòa bình hạnh phúc nhất.
    Nhưng ngày mai ngày kia và cả tương lai phía trước cái ánh sáng hạnh phúc đó có còn ngập tràn mãi mãi trên Tổ quốc thân yêu của chúng ta không? Ai cũng biết hòa bình là quý giá nhất, nhưng chiến tranh vẫn không ngừng xảy ra. Lúc tôi đang gõ những chữ này trên máy tính thì máu người dân Lybia vẫn đang đổ. Và hiện tại, chính cuộc sống thanh bình của chúng ta cũng đang bị đe dọa, khi ông bạn láng giềng khổng lồ lại gây rắc rối nơi biên cương, hải đảo!
    Tại sao vậy? Tại sao người từng giúp chúng ta rất nhiều trong công cuộc giành độc lập, từng đã ra những tuyên bố rất cao đẹp về tình hữu nghị, về hiệu quả của sự hợp tác làm ăn, lại luôn làm dân ta không yên? Có lẽ tất cả đều do lòng tham của con người. Chính cái lòng tham mà khi giác ngộ, Đức Phật đã chỉ ra nó là kẻ thù số 1 của đau khổ, đứng trước cả “sân” và “si”. Có điều lòng tham không chỉ là “đặc sản” riêng của người Tầu. Từ bao đời, chính nó đã gây ra những cuộc thánh chiến thời Trung cổ, đẻ ra chủ nghĩa thực dân cũ và mới, đẻ ra chủ nghĩa phát-xít. Vì thế mới từng có câu “Mặt trời không bao giờ lặn trên Đế quốc Anh”, và Pháp ở tận trời Tây xa xôi đã đến tận Đông dương, coi xứ An-nam-mít Việt nam ta như một bãi hoang để khai thác và truyền đạo. Còn những ngày nóng hổi hôm nay đây, chủ nghĩa bá quyền vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức, những cuộc chiến vẫn ngày ngày xảy ra, nhân danh những điều lấp lánh vì “dân chủ”, vì “nhân quyền”, nhưng thực chất là vì dầu hỏa, vì địa chính trị, những nước lớn muốn xây “phên giậu” cho họ trên khắp thế giới!
    Nói vậy không có nghĩa biện hộ cho Trung Quốc, mà ý chính là chúng ta phải luôn cảnh giác, là một nước nhỏ yếu, trên mặt trận ngoại giao chúng ta luôn phải mềm mỏng để giữ hòa hiếu, nhưng dù người ta có nói biết bao lời hay ý đẹp, ta vẫn phải luôn nhớ rằng, ai cũng đặt quyền lợi của quốc gia họ cao hơn hết. Với một lịch sử bị xâm lăng, từng phải chống lại những đối thủ hùng mạnh nhất, chúng ta không thể đơn độc nhịn đói, dùng gậy gộc mà giành được độc lập. Chúng ta buộc phải đi nhờ vả thiên hạ, và trong cuộc nhờ vả đó, ta không thể được hết mà không bị mất gì, mà buộc phải trả giá. Những rắc rối trên biển hôm nay đây chính là một trong những cái giá mà chúng ta còn phải trả. Nhưng thế giới hôm nay đã là thế giới văn minh, kẻ mạnh không thể tùy tiện thống trị người yếu. Vậy trước những nguy cơ, chúng ta không thể chỉ cương quyết dùng ý chí sắt đá để bảo vệ Tổ quốc mà còn cần phải khôn khéo hóa giải những mâu thuẫn bằng một sức mạnh tổng hợp của thời đại.
    Chính vì vậy, trước những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc liên tiếp xảy ra trên Thủ đô thời gian gần đây, chúng ta cần tỉnh táo phân tích xem như vậy là có lợi hay hại cho mục tiêu tối thượng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
    Nhiều người vì trình độ có hạn dễ bị lôi kéo, còn đám đông thường phản ứng bồng bột, thiếu tỉnh táo để suy xét hành động quá khích của họ là lợi hay hại. Chính vì đặc tính này mà những kẻ gây chiến mới làm nổ ra được những cuộc chiến đẫm máu. Hít-le không thể một mình làm ra được một cuộc đại chiến mà cả dân Đức phải bị lôi kéo vào, để rồi phải chịu thất bại nhục nhã.
    Có điều thật lạ là, khi các cuộc biểu tình triền miên tại Hà Nội lần này đã thành quá đà, làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, đến lao động sản xuất, thậm chí có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đẩy công việc hòa giải vào thế bí, đi ngược với chính sách nhất quán theo xu thế của thời đại đối thoại thay cho đối đầu của Nhà nước, luôn coi trọng tình hữu nghị, hòa bình với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc và tất cả các nước trên thế giới; chính quyền Hà Nội đã phải ra thông báo yêu cầu chấm dứt các cuộc biểu tình để ngăn sự thái quá làm phương hải đến trật tự xã hội, thì cùng với lực lượng căm thù chế độ ra sức kích động làm loạn xã hội, một số tướng lĩnh, trí thức tên tuổi, đã từng giữ những trọng trách như ông CH, NN, NHC, PDH, NQA, NXD v.v… cũng lại ra sức cổ vũ, thậm chí nhiều ông còn trực tiếp xuống đường tham gia.
    Khi lực lượng an ninh Thủ đô thi hành chức trách giải tán các cuộc biểu tình đó, thì ông GS CH đã: “phẫn uất nghẹn ngào”; “cực lực phản đối và lên án” “hành động hết sức nguy hiểm!”; và cho “là một hành vi phản động về mặt chính trị”; “công khai đàn áp những người yêu nước”; “thù địch đối với những người kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đất nước”. (http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/giao-su-chu-hao-len-tieng.html)
    Ông TS NQA, dù tận mắt thấy trong cuộc biểu tình “không ai bị hành hung” nhưng lại cho những người thi hành nhiệm vụ là: “vi phạm pháp luật nghiêm trọng” như “như những tên cướp” (http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/ts-nguyen-quang-ho-quen-mat-loi-cu-ho.html).
    Khi viết vậy chắc các vị không biết rằng Quyền biểu tình trong Điều 69 Hiến Pháp 1992 của nước ta có nội dung như sau:
    “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình” nhưng phải “theo quy định của pháp luật”. “Quy định pháp luật” đó chính là Nghị định số 38/2005/NĐ-CP mà cụ thể tại Điều 7 ghi rõ: “việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với UBND có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký… Bản đăng ký phải có các nội dung cơ bản sau: a) Họ tên, tuổi, địa chỉ của người đăng ký; tên, trụ sở và các thông tin khác của tổ chức đăng ký; b) Nội dung, mục đích việc tập trung đông người; c) Ngày, giờ diễn ra hoạt động, thời gian kết thúc; d) Địa điểm tập trung, đường đi, sơ đồ lộ trình sẽ đi qua; đ) Tên của các tổ chức dự kiến tham gia và họ tên, tuổi, địa chỉ của người đại diện cho tổ chức đó; e) Số người dự kiến tham gia; cờ, ảnh, phương tiện mang theo, nội dung biểu ngữ, khẩu hiệu (nếu có); g) Cam kết thực hiện đúng nội dung, phạm vi hoạt động đã đăng ký và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự công cộng”.
    Ngay Điều 21 Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi rõ “Quyền hội họp hoà bình phải được công nhận. Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế”, nhưng cũng không phải là tuyệt đối bởi còn vế sau của câu này nữa: “trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác”
    Ngày 18/8/2011, UBND TP Hà Nội đã ra thông báo yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát, đồng thời cử cán bộ đến vận động từng người. Khoan bàn đến tính pháp lý của văn bản, chỉ xét ở góc độ hợp lý, hợp tình trong ứng xử cộng đồng cũng có thể nhìn nhận được: Đúng lý ra các cuộc biểu tình nên dừng lại, thế nhưng lại vẫn cứ diễn ra. Như vậy, những người cố tình vi phạm và các vị cố tình cổ vũ biểu tình đã thực sự phạm pháp. Vậy mà ông CH lại cho lực lượng an ninh thi hành công vụ là “thù địch”; ông NQA gọi họ là “ Những kẻ”, “Chúng”, tức cũng đã coi họ là địch. Tôi không hiểu sao những ông GS, TS nhất là về khoa học tự nhiên, tức phải thông minh hơn người và cũng đã cao tuổi cả, tưởng phải chín chắn, hiểu thấu đáo và phân biệt được bản chất khác nhau của những hiện tượng, mà về hình thức có thể giống nhau, vẫn luôn xảy ra trong đời sống; vậy mà lại có thể suy nghĩ và phát ngôn nông nổi, đầy kích động và lầm lạc như trên sao? Nếu những người biểu tình tuân thủ pháp luật, vui vẻ giải tán thì liệu lực lượng an ninh có cưỡng chế không? Không hiếm người thi hành nhiệm vụ ổn định trật tự đã bị đổ máu, bị hy sinh bởi những kẻ biểu tình quá khích. Nên việc cảnh sát dùng dùi cui, vòi rồng, lựu đạn cay… cưỡng chế giải tán biểu tình tưởng đã là điều hiển nhiên trên thế giới mà ai cũng phải hiểu. Hai vị này hồi chiến tranh khi hầu hết thanh niên lên đường chiến đấu thì đều được du học dài dài. Không hiểu các vị vì học cao quá, hay vì sung sướng quá mà xa rời những bước đi lấm bùn và máu của dân tộc, nên không hiểu được những lẽ thường, không phân biệt được thế nào là kẻ địch. Ngay trong những ngày hòa bình hôm nay đây, khi các vị sống sung sướng thành đạt, danh lợi vẹn toàn, thì vẫn có những chiến sĩ công an hy sinh trên mặt trận chống tội phạm, giữ gìn cuộc sống bình yên cho nhân dân. Vậy, khi các vị cho lực lượng an ninh thi hành nhiệm vụ là địch thì thực sự chính các vị đã tự biến mình thành kẻ địch!

    * Phần 2: Ai là phản động?

    Nhà văn Nguyên Ngọc, một trong những nhân sĩ tích cực cổ vũ và còn trực tiếp tham gia biểu tình khác, trong thư gửi ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, viết:
    “Tối ngày 22 tháng 8 năm 2011, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình thời sự … đã cho phát một phóng sự về những cuộc biểu tình và những người biểu tình ở Hà Nội trong thời gian vừa qua, … coi các cuộc biểu tình và những người biểu tình ấy là phản động, và trong khi nói như vậy đã đồng thời đưa rõ hình ảnh ba người là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải và tôi.
    Thưa ông,
    Tôi năm nay đã 80 tuổi… Ở nước ta, như chắc chắn ông biết, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ”. (http://quechoa.info/2011/08/31/th%C6%B0-c%E1%BB%A7a-nha-van-nguyen-ng%E1%BB%8Dc-g%E1%BB%ADi-bi-th%C6%B0-ha-n%E1%BB%99i-ph%E1%BA%A1m-quang-ngh%E1%BB%8B/)
    Quả thật chẳng ai thích thú khi bị cho là phản động. Nhưng thực sự ông Nguyên Ngọc có phản động không?
    Theo tôi phản động có nghĩa là phản lại xu hướng chung. Còn Nguyên Ngọc, khi cả đất nước tự hào về chiến thắng vĩ đại trong cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, nhưng là một người có trọng trách trong Hội Nhà văn, ông đã lăng xê cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Cuốn sách mà GS Trần Thanh Đạm mới đây khi biết tin một tờ báo kinh tế của Nhật tặng Giải thưởng châu Á cho Bảo Ninh đã viết: “những người phản đối thì phê phán cách thể hiện xuyên tạc, thiên lệch đối với tính chất chính nghĩa, anh hùng của cuộc chiến tranh từ phía Việt Nam tiến hành vì sự nghiệp độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình của nhân dân Việt Nam”; “Thế là thiện ác đảo điên, chính tà lẫn lộn, vinh nhục bất phân” (http://honvietquochoc.com.vn/Van-hoc/Ly-luan-phe-binh/Ve-Noi-buon-chien-tranh.aspx)
    Thực chất, Bảo Ninh vì “Tôi không muốn viết theo một cái “tông” có sẵn” nên: “Những gì tôi viết trong cuốn sách này, tôi cũng đã nói rằng nó không hoàn toàn là sự thật”. “chiến tranh tóm gọn lại là sự chết chóc, hủy diệt. Tôi nghĩ thế là quyền của tôi, và có người phê phán tôi thấy cũng chẳng sai”; “cách viết của tôi về chiến tranh khác với các nhà văn khác” (http://www.Baodatviet.vn/Utilities/PrintView.aspx?ID=9840).
    Và cái “khác” của BN là: trước kia người viết cái tốt thì giờ chỉ viết toàn cái xấu mà thôi. Nếu thời chiến đa phần thanh niên ra đi theo lý tưởng giải phóng (thể hiện rõ nhất trong nhật ký của anh Thạc, chị Trâm) thì nhân vật Kiên của BN ra đi với lời dặn: “Nghĩa vụ của một con người trước trời đất là sống chứ không phải hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ…, mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy” (NBCT, nxb Hội nhà văn, 1991, tr. 61). Còn đây là hình ảnh “anh chiến sĩ giải phóng” trong NBCT: Hiếp dân lành (chuyện cô Phương bị hiếp tập thể trên tầu) (tr. 243) ; hành lạc tập thể (giữa phân đội trinh sát với 3 cô gái trong khu trại tăng gia huyện đội) (tr.31); bài bạc, hút xách (hút hồng ma), trốn chạy (nhân vật Can), tàn sát tù binh (tr. 42) …
    Vậy mà Nguyên Ngọc, theo (http://phamxuannguyen. vnweblogs. com/ post/1958/114671): “người có công lớn trong việc trao giải cho Nỗi Buồn Chiến Tranh, đánh giá rất cao tác phẩm này. Ông viết: “Đây là cuốn tiểu thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay. Bằng cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình. Cuốn sách này không mô tả chiến tranh. Nó “mô tả” một cuộc kiếm tìm nặng nhọc chính hôm nay. Hiện thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằn quại và đầy trách nhiệm, quằn quại vì đầy trách nhiệm. Trách nhiệm lương tâm. Cuốn sách nặng nề này không bi quan. Vẫn thấm sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm hưởng hy vọng tiềm tàng, chính là vì thế. Anh đi tìm, nghĩa là anh còn hy vọng”.
    Tôi quá ngạc nhiên khi Nguyên Ngọc, người từng được nhà văn nổi tiếng là thông minh như Nguyễn Khải coi là “nhà tư tưởng của thế hệ” mình, viết vậy. Với lời nhận xét trên thực ra Nguyên Ngọc chưa hiểu gì về NBCT, chỉ thấy cái hơi hướng hợp với ý mình rồi tán ra cho thành tuyệt vời mà hoàn toàn không có căn cứ gì ở tác phẩm. Còn thực chất BN viết gì? NBCT thực chất là cuốn sách viết về sự chấn thương tâm thần của một người lính giải phóng đã trải qua một cuộc chiến tàn khốc: “Chiến tranh là cõi không nhà không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người”(NBCT, tr. 32); rồi trở về với sự đổ vỡ của tình yêu: “Đột ngột, Kiên … đã thoáng thấy một bóng người đứng ở bên trong cánh cửa phòng Phương… Gương mặt Phương trắng bệch… Chao ôi! Như vậy đấy: Hoà bình, hạnh phúc… ” (tr. 86); và đổ vỡ niềm tin: “Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng còn gì nữa cả… Chỉ còn những mộng mị hão huyền… Càng ngày Kiên càng có cảm giác rằng không phải mình đang sống mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này” (tr. 87); vì thế đã “tìm lẽ sống hôm nay”(ý Nguyên Ngọc) và “chiến đấu lại” bằng cách: “dầm mình trong rượu” (tr. 87) và “viết văn”, nhưng phải “làm cách mạng văn chương” (theo ý BN) bằng cách chỉ kể lại những gì bi thảm nhất: “Tôi như sẵn sàng nhập thân trở lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng. Thói hiếu sát. Máu hung tàn. Tâm lý thú rừng. Ý chí tối tăm và lòng dạ gỗ đá” (tr. 49); “Dằng dặc trôi qua trong hồi ức của Kiên vô vàn những hồn ma thân thiết, lẳng lặng âm thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi đau buồn chiến tranh” (tr. 26) … và những gì xấu xa nhất của đội quân mình đã đứng trong đó (như đã dẫn ở trên); để rồi với “Trách nhiệm lương tâm” (ý Nguyên Ngọc) đã chỉ ra sự hy sinh của mình và bao đồng đội là vô nghĩa: “ – Hừ! Hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình…”(tr. 44); “ Nền hòa bình này… Hừ tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bày ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra…/ – Mẹ khỉ. Ăn nói gì lạ thế Sơn?/ – Lạ chó gì mà lạ. Cái loại lính như ông ấy mà còn là vỡ mộng đau đớn với đời” (tr. 45).
    Nhiều giải văn chương trên thế giới, kể cả giải cao nhất là giải Nobel, có những giải đã trao không vì giá trị văn học mà vì ý nghĩa chính trị, nhất là các giải trao cho các nhà văn ở các nước thuộc phe XHCN có ý thức chống chế độ họ đang hoặc từng sống ở đó. Nên không có gì là lạ khi nước ngoài tôn vinh Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, vì với họ Độc lập Tự do của nước ta không có ý nghĩa gì và máu của bộ đội ta cũng chỉ như nước lã mà thôi! Chỉ có điều lạ là, Nguyên Ngọc, một người từng viết văn ca ngợi những anh hùng trong kháng chiến thì trong hòa bình ông lại ca ngợi Nỗi buồn chiến tranh, một hành động tự phủ nhận chính tác phẩm của mình. Không chỉ thế, ông còn coi thường tất cả các giá trị của chế độ hiện tại, từng tỏ thái độ thờ ơ với tất cả sự tôn vinh dành cho mình. Năm 2000, từng vắng mặt trong Lễ trao Huân chương Độc lập; từng từ chối nhận Giải thưởng Nhà nước đợt đầu tiên; đặc biệt gần đây cũng thẳng thừng rút khỏi danh sách đề cử Giải thưởng Hồ Chí Minh, một sự tôn vinh cao nhất của nhà nước với một người sáng tác.
    Như vậy, ông coi thường sự tôn vinh của nhà nước (nghĩa là ông coi nhà nước này là xấu) lẽ ra phải thích thú khi bị lăng nhục chứ. Bởi theo lẽ thường ai cũng không thích kẻ xấu khen ngợi mình và cũng chẳng có gì phải tức tối khi bị kẻ xấu chê bai.
    Với những trích dẫn minh chứng trên đây, chúng ta có thể thấy được bản chất một con người không đơn thuần thể hiện qua những gì họ nói về họ, hay họ thể hiện trước công luận, mà cần xét đến khía cạnh ẩn sâu trong những việc làm đầy ẩn ý khi nêu quan điểm về người khác.

    Bình luận bởi Huy Bình | Tháng Mười Một 9, 2011 | Phản hồi

  4. Uy ban nhan dan tinh Binh Duong dung luc luong cong an xuong ap buc boc lot lay dat nhan dan de mo rong duong Nguyen Thi Minh khai thu hut dau tu nuoc ngoai lam map ong chu tinh den bu voi gia re .Voi so tien thap do nhan dan lay gi mua dat de an cu lap nghiep Uy ban nhan dan tinh Binh Duong dung luc luong cong an xuong ap buc boc lot lay dat nhan dan de mo rong duong Nguyen Thi Minh khai thu hut dau tu nuoc ngoai lam map ong chu tinh den bu voi gia re .Voi so tien thap do nhan dan lay gi mua dat de an cu lap nghiep
    Nhan dan Viet Nam dau tranh hy sinh xuong mau de dau tranh chong ap buc boc lot danh lay tu chu cho rieng minh. Nhung o thoi hoa binh lai bi uy ban nhan dan tinh Binh Duong dung luc luong cong an xuong dan ap nhan dan
    Hoi dong bao ca nuoc hay cuou lay nguoi dan bi mat dat trang tron nhu vay

    Bình luận bởi binh | Tháng Mười Hai 27, 2011 | Phản hồi

  5. Mình có ông bạn mới đi nước ngoài về,
    Ông ấy đi du lịch, thăm bạn bè, có kể tôi nghe ông ấy đi du lịch nhưng giành thời gian phần lớn là để đọc sách. Tôi hỏi tại sao đi du lịch lại phí như thế, ông ta bảo mình tuổi già rồi mà còn bị tụi CS nó tuyên truyền thành ra lú lẫn, cái gì ở Mỹ cũng xấu, ở Việt Nam cái gì cũng tốt. Qua đây rồi mới thấy sự thật là khác hẳn.
    Đặc biệt là đọc được những cuốn sách của thời VNDCCH viết mới thấy được sự thật của chế độ CS.
    Tôi tìm mãi những cuốn sách này mà không thấy.
    Tôi thiết nghĩ nếu anh em ở nước ngoài có điều kiện, nên xuất bản sách các sách này dưới dạng ebook để người trong nước có thể đọc được. Chứ xuất bản giấy thì ơ trong nước không có cách gì để đọc được.
    Chân thành cám ơn quí nhà báo.

    Bình luận bởi Den | Tháng Một 9, 2012 | Phản hồi

  6. Không biết quí vị đã coi đoạn phim này chưa ?

    Bình luận bởi Sắt Son | Tháng Một 18, 2012 | Phản hồi

  7. Ðảng Cộng Sản và Dân Chủ ở Việt Nam

    Tác giả: Trần Độ

    Ai đã sống từ những năm 20-30 của thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 đều có thể nhìn thấy và chứng kiến 2 tình trạng, 2 bức tranh hầu như trái ngược của ÐCSVN. Ðầu thế kỷ 20 cho đến năm 1945, Ðảng Cộng sản có mấy nghìn Ðảng viên mà thực dân Pháp và Phong kiến triều Nguyễn rất hoảng hốt lồng lộn. Cả một hệ thống nhà tù. Từ Hoả Lò, Sơn La. Lao Bảo, Kon Tum, Ban Mê Thuột đến Khám lớn, Côn Ðảo…, đều đầy ắp tù Cộng sản. Thế mà cuộc Cách mạng tháng 8/1945 đã thành công. Sau đó thì ở 3 Kỳ chỗ nào cũng là người mới ở nhà tù ra làm nòng cốt: Bắc Kỳ thì tù từ Hoả Lò, Sơn La; Trung Kỳ thì tù từ nhà tù Lao Bảo, Kom Tum, Ban Mê Thuột; ở Nam Kỳ thì tù từ nhà tù Khám lớn, Côn Ðảo. Suốt trong kháng chiến chống Pháp, ở khắp nơi những người Cộng sản làm cán bộ Quân đội và Chính quyền và sống ở trong dân, đều ăn, ở như dân và đều nổi bật lên về tính gương mẫu, về chịu đựng gian khổ và hy sinh tính mệnh. Chỗ nào dân cũng mong đợi, ngưỡng mộ và yêu mến các “cán bộ” cộng sản, chia cơm, xẻ áo, và lấy cả tính mệnh mình để che chở, bảo vệ cho những cán bộ Cộng sản.

    Và bây giờ, đầu thế kỷ 21 thì tình trạng và bức tranh là: Ðảng Cộng sản là một đảng cầm quyền lãnh đạo bao trùm cả Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước. Những vị trí quan trọng của Bộ máy Nhà nước: Chủ tịch, phó Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Giám đốc và phó Giám đốc Sở, Ty, Hội trưởng, Uỷ viên chấp hành các Hội quần chúng đều phải là Ðảng viên: Ðảng viên có sẵn để Ðảng chọn xếp vào các vị trí hoặc chưa là Ðảng viên thì phải phấn đấu vào Ðảng, rồi mới hòng được bổ nhiệm chức nọ, chức kia, từ ở phường, xã lên đến huyện, tỉnh và đến cấp Trung ương, toàn quốc. Trước đây, cán bộ đi sâu đi sát là có bộ áo nâu rách, quần ống thấp, ống cao, đeo cái bị cói hoặc một tay nải nhỏ đi len lỏi các nơi hẻo lánh khốn khó, thậm chí rất nguy hiểm. Còn ngày nay, đi sâu đi sát là xe hơi bóng láng, mới cáu cạnh toàn của các hãng Tư bản nước ngoài danh tiếng chế tạo, hoặc từng đoàn xe hơi có công an hộ tống dẹp đường, đến nơi nào đều có đón tiếp ở khách sạn sang trọng nhất, họp mặt ở những hội trường sang trọng nhất, gặp các người đứng đầu cơ sở hoặc địa phương nghe báo cáo, đi thăm các cơ sở gặp vài người đã được chọn lọc (để bảo đảm an toàn cho cấp trên) hỏi vài ba câu thường là vớ vẩn, đôi khi lại còn ngớ ngẩn, rồi lại vào phòng khách sang trọng có mấy lời huấn thị thường là được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, rất nhạt nhẽo và nhàm chán thế mà đều được khen là “sâu sắc”, “sáng rõ” và được hứa xin chấp hành nghiêm túc. Còn đám cán bộ cấp dưới chỉ đua nhau mở sổ lấy bút ghi chép lia lịa “những lời vàng ngọc quý báu” mà cấp trên huấn thị.

    Tôi là người đã trải qua 2 cảnh trái ngược ấy. Có lần tôi thăm một huyện, khi đi về được tiễn đưa rất trọng thể và đến cuối đường thì đồng chí Chủ tịch huyện nắm tay tôi rất chặt và hứa trịnh trọng rằng sẽ chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ thị “sáng suốt” của tôi. Tôi ngẫm nghĩ mãi, không biết tôi đã chỉ thị những gì, tính tôi hay đùa, tôi liền hỏi đồng chí Chủ tịch đó rằng: “Một năm huyện cậu có mấy lần các đồng chí Tỉnh và các ngành Trung ương về thăm”? Ðồng chí đó bảo độ 5-7 đoàn. Tôi lại hỏi thế cậu làm sao chấp hành hết 5-7 lần chỉ thị ấy? Ðồng chí Chủ tịch cười và không trả lời! Thế là tôi được đích thân chứng kiến Ðảng Cộng sản giữa thế kỷ 20 là Ðảng gồm những Ðảng viên mà từ Tổng Bí thư đến đảng viên thường sống trong dân cùng cơm khoai, ổ rơm, rau dưa với dân, trực tiếp bàn với từng người dân công việc làm ăn và công tác Cách mạng. Và bây giờ cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 là một Ðảng mà tuyệt đại đa số là các quan, quan nhỏ ở cấp cơ sở, quan nhỡ ở cấp trung gian, quan lớn ở cấp Trung ương. Các quan đứng đầu cấp toàn quốc thì dân các nơi phải cơm nắm cơm gói họp nhau chầu chực ở cổng (có lính gác, cảnh vệ hoặc công an) để mong được gặp mà không được. Ðã không được gặp mặt các quan để đưa đơn từ khiếu kiện và giãi bày, cầu cứu những oan khuất của mình trong đời sống (bởi vì quan không có thì giờ) mà còn bị coi là có người đứng đằng sau xúi giục và có âm mưu vi phạm an ninh quốc gia. Tôi có may mắn là đã từng được là cán bộ cơm khoai, rau má, ổ rơm và cũng một thời cũng làm quan cấp Trung ương đi xe hơi, ở khách sạn. Tôi thấm thía nỗi niềm và tôi muốn mô tả và lý giải cái sự biến chuyển thần kỳ của Ðảng Cộng sản, từ cơm nắm, đến làm quan và nhận xét xem sự biến chuyển đó là hay hay dở, là thắng lợi hay thất bại?

    I. Ở Việt Nam có dân chủ hay không?

    Tôi xin trả lời khẳng định ở Việt Nam đã từng có dân chủ, và có dân chủ một cách tốt đẹp, đáng tự hào. Ðó là những năm tháng sau cách mạng tháng 8/1945. Ðảng Cộng sản có Hồ Chí Minh đứng đầu đã kêu gọi và lãnh đạo nhân dân tổng khởi nghĩa, đập tan một nhà nước phong kiến tay sai, nô lệ, lập nên một Nhà nước Dân chủ Cộng hoà, đập tan lũ vua quan và quan lại thực dân, lập nên Chính phủ Cộng hoà lâm thời và sau đó lập tức tổ chức cho dân bầu cử (với một chế độ tự do thực sự) có những người ứng cử mà đa số không phải là đảng viên Ðảng cộng sản.

    Tôi đã trực tiếp tham gia một cuộc vận động bầu cử mà một ứng cử viên nhận là giai cấp công nhân, lên diễn thuyết với một cái mỏ-lết to tướng đút ở túi ngực. Tôi lại được tham gia với một nhóm trí thức (gồm bác sĩ, giáo viên, công chức cũ) mở tiệc ăn mừng một số bạn trúng cử, sau đó rủ nhau đi hát cô đầu để mừng thắng lợi. Không khí thật hồn nhiên và hồ hởi.

    Quốc hội lần ấy, có rất ít đảng viên Cộng sản là đại biểu và đều là những người hoạt động dưới sự dìu dắt lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội ấy về sau lại thêm 70 đại biểu không bầu, thuộc các Ðảng phái khác (đối lập). Vậy thì Quốc hội khoá I ấy là Quốc hội đa nguyên, đa Ðảng. Nhưng cũng Quốc hội ấy lập nên Chính phủ Cộng hoà Dân chủ, mà đa số cũng không là Ðảng viên Cộng sản, cũng Quốc hội ấy thông qua Hiến pháp 1946 là một Hiến pháp dân chủ nhất mà tất cả những Hiến pháp sau này đều không theo kịp.

    Thế là từ năm 1945-1946, nước ta đã có một chế độ Dân chủ cộng hoà, với Quốc hội được bầu cử tự do, và đa Ðảng và một Chính phủ mà đa số thành viên không phải đảng viên cộng sản. Ðặc sắc của chế độ Cộng hoà dân chủ lúc ấy mãi về sau là: Ðược bầu cử tự do thực sự. Ða đảng, nhiều thành viên là người ở nhiều Ðảng khác nhau, có cả những người không ở Ðảng nào. Rất ít Ðảng viên cộng sản mà rất nhiều người có danh vọng, có trí thức.

    Thế là ta đã có một Nhà nước thật sự dân chủ và một xã hội cũng thật sự dân chủ. Mọi người dân đều công nhận chính phủ là của mình, Nhà nước là của mình, dễ dàng đến với Nhà nước và người Nhà nước cũng dễ dàng đến với nhân dân.

    – Cán bộ Nhà nước là những cán bộ gần dân, sống trong nhân dân.

    – Có tự do ngôn luận, có báo chí tư nhân, có tự do phát biểu chính kiến.

    – Có tự do xuất bản, in ấn.

    – Có tự do hội họp và lập hội.

    – Quân đội là Quân đội của dân,

    – Công an cũng là Công an của dân.

    Cán bộ, Quân đội, Công an đều là các anh, các chú, các em, các cháu của dân, dân có thể khen ngợi hoặc mắng mỏ như mắng mỏ con em mình. Mọi người tự do đi lại, tự do làm ăn, tự do buôn bán, cuộc sống thật thoải mái, dễ chịu. Tất nhiên có một số hạn chế do chiến tranh như hạn chế qua lại giữa vùng địch và vùng giải phóng. Quan trọng nhất là mỗi người dân đều thấy thoải mái tự do, không sợ mà lại rất gần gũi với cán bộ Nhà nước. Không khí ấy kéo dài trong suốt cả cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kéo dài cả sau năm 1954 ở miền Bắc một thời gian. Thế thì Việt Nam đã thực sự có một Nhà nước dân chủ và một xã hội dân chủ. Ðiều đó đã thực sự diễn ra ở cả nước đến 1954 và ở miền Bắc đến 1975 (trong những năm 60 và 70 do tình thế chiến tranh ở miền Nam và miền Bắc là hậu phương lớn lại có chiến tranh phá hoại, nên không khí dân chủ nhạt dần).

    II. Nước Việt Nam bây giờ (Cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21)

    Thật khó mà nói rằng nước Việt Nam bây giờ là nước dân chủ. Tuy rằng giới lãnh đạo và giới tuyên truyền vẫn lớn tiếng coi Việt Nam là nước dân chủ, chỉ có khuyết điểm là “hơi” kém dân chủ. Nhưng tôi thì khẳng định rằng: Nước Việt Nam hiện nay ít nhất là nước không dân chủ tuy vẫn mang nhãn hiệu cộng hoà. Sau năm 1975, nhân dân miền Nam bị nô dịch bởi “thực dân mới” nhưng có đôi chút của “Dân chủ tư sản” là tự do làm ăn, tự do báo chí, xuất bản thì cũng bị Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xoá bỏ triệt để, mà chỉ được hồi lại chút ít sau đổi mới. Nhà nước và xã hội Việt Nam hiện nay có những đặc điểm gì?

    1. Chỉ có một Ðảng là Ðảng Cộng sản và Ðảng Cộng sản dẹp bỏ hết các Ðảng (Ðảng xã hội, Ðảng dân chủ) đã có dưới thời Hồ Chí Minh, Ðảng Cộng sản thực hiện chế độ độc Ðảng. Tuy Hiến pháp năm 1992 có ghi: Tự do lập hội nhưng có người gửi giấy lập Ðảng khác thì bị đuổi việc và đe doạ quản chế, Công an thường xuyên thăm hỏi nhiều lần, cuộc sống bị hăm dọa nhũng nhiễu, bị theo dõi gắt gao, bị khủng bố tinh thần và tâm lý hết sức căng thẳng. Lại có người cũng mới làm đơn xin lập Hội chống tham nhũng thì tất cả những người có liên quan (độ 20 người) đều bị bắt lên Công an thẩm vấn, hành tội và bị gán cho là lập Hội trái phép! Có nhiều người bị khám nhà và tịch thu phương tiện… Thế mà có ai nói Chế độ ở Việt Nam là chế độ độc Ðảng thì lại bị người ta oán giận (*) và bị Công an chú ý. Ðã chế độ Ðộc Ðảng thì hiển nhiên là một chế độ độc tài, độc đoán, độc quyền ngược lại với chế độ dân chủ. Không thể nói nước Việt Nam ta có dân chủ được!

    2. Ðã độc Ðảng mà Ðảng lại thực hiện một chế độ lãnh đạo tuyệt đối toàn diện và triệt để. Thế là hai lần không dân chủ. Ðó là một sự thật hiển nhiên, cho dù bộ máy tư tưởng, tuyên truyền của chế độ có hùng mạnh gấp trăm lần cũng không che lấp được sự thật này và lừa bịp được một ai. Nhiều người gọi chế độ này là chế độ Toàn trị, Ðảng trị, độc tài toàn trị, thậm chí có người còn gọi đó là chế độ Công an trị, mật vụ trị, quân phiệt trị. Riêng tôi, tôi cũng cho là thế và nói thế.

    Biểu hiện của chế độ này thì có nhiều tôi chỉ lược qua như sau:

    Ðảng bao trùm và xâm nhập vào tất cả các tổ chức Nhà nước và các tổ chức xã hội lớn nhỏ, tạo nên một chế độ Nhà nước quan liêu hoàn toàn tách rời đời sống nhân dân, đời sống xã hội. Muốn làm quan thì phải là đảng viên, có là đảng viên thì mới được làm quan. Từ xã , phường, cho đến Chính phủ, Bộ, Thứ trưởng, Cục, Vụ trưởng. Thậm chí cho đến trưởng, phó phòng, ban Ðảng cũng còn phấn đấu để tất cả là đảng viên.
    Các tổ xã hội thì, tổ chức nào có Chủ tịch và ban chấp hành là Ðảng viên mới được công nhận và hoạt động. Hội chống tham nhũng không do Ðảng đề xướng và bố trí Ðảng viên, thì bị coi là âm mưu, bị cấm đoán và Công an làm khó dễ, bắt bớ. Hội cựu chiến binh là Hội gồm những người gần Ðảng nhất, gồm những nòng cốt của Ðảng mà khi ra đời cũng khó khăn chật vật. Ðó là vì Ðảng chưa bố trí được người tin cậy để trủ trì. Những người đề xướng đều là đảng viên nhưng có đôi chút ý kiến độc lập, vì vậy Ðảng làm khó dễ kể cả khi các hội viên biểu thị rõ rệt không tín nhiệm người phụ trách. Ðảng bố trí bằng được người ngoan ngoãn, dễ bảo, phục tùng tuyệt đối mình thì lúc đó Hội mới được công nhận và hoạt động. Ðối với cán bộ được bầu, thì trong mỗi cuộc bầu, các cơ quan tổ chức và đồng chí cấp uỷ phụ trách tổ chức quyết định danh sách người trúng cử và bên cạnh đó cho thêm một vài người không trúng để cho ra vẻ là một cuộc bầu cử có dân chủ. Tôi nhiều lần ứng cử Trung ương và Quốc hội, tôi đều biết trước rất rõ tôi sẽ trúng cử hay không? Danh sách đại biểu Quốc hội đã được quyết định trước khi bầu hàng tháng vì đồng chí cấp Uỷ viên và Ban tổ chức đã thông qua rồi. Dân đã có câu rất chính xác là: “Ðảng cử dân bầu” dân chỉ đi bầu theo danh sách đã định. Các phương tiện thông tin, báo chí tha hồ ca ngợi tít mây xanh không khí “ngày hội” mà không hề có thật. Và Ðảng vẫn bắt mọi người phải công nhận thế là có tự do bầu cử, ứng cử!

    Ðảng hoàn toàn và trắng trợn chuyên chính về tư tưởng văn hoá, bất chấp cả Hiến pháp, Ðảng chỉ đạo Quốc hội ra luật báo chí, xuất bản khác hẳn tinh thần Hiến pháp, thu xếp bằng được uỷ viên Bộ chính trị, phụ trách công tác tư tưởng văn hoá, bố trí, nắm chặt và khống chế các giám đốc Nhà xuất bản, các tổng biên tập báo chí, buộc những người này phải ngoan ngoãn tuân theo hệ thống tư tưởng văn hoá và Công an văn hoá. Về điều này tôi là nạn nhân trực tiếp. Tôi có các hồi ký, bút ký trong đó tôi có nêu lên được đôi phần (chỉ đôi phần thôi) sự thật. Bản thảo đã được đưa cho một nhà xuất bản. Nhà xuất bản ấy đã biên tập nhưng không dám in vì Nhà xuất bản phải thăm dò ý kiến của Công an và tư tưởng. Có Nhà xuất bản khác có những biên tập viên rất thích, nhưng giám đốc mới bị khiển trách và nhắc nhở, nên cũng đành ngậm đấy “còn chờ thời cơ”. Không khí ngôn luận ngạt thở. Giới trí thức và văn nghệ sĩ (trừ một số tư duy quá cũ) đều ngán ngẩm và giấu biến ý kiến độc lập của mình. Bất cứ ai có chút ý kiến độc lập đều phải dấm dúi lén lút. Nhưng sự dấm dúi lén lút này đang ngày càng lan rộng và de doạ sự bùng nổ mãnh liệt.
    Cách lãnh đạo theo nguyên lý Ðảng là bao trùm và cao hơn hết. Quốc hội phải họp sau Trung ương, Chính phủ chỉ làm việc hợp pháp hóa các chủ trương của Ðảng. Ðảng lãnh đạo và cai trị bằng Nghị quyết. Cho nên dư luận nước ngoài họ nói rằng Quốc hội và Chính phủ Việt Nam chỉ là “con dấu” dùng để đóng vào các Nghị quyết và văn kiện của Ðảng đã soạn thảo sẵn, kể cũng không ngoa.
    Mỗi Nghị quyết của Ðảng thì cả Quốc hội và Chính phủ phải học tập, rồi toàn dân cũng phải học tập, các trường học, thầy giáo đều phải học tập. Thời gian học Nghị quyết của Ðảng có lẽ chiếm mật độ 1/4 thời gian lao động của người dân và 1/4 thời gian làm việc của các cơ quan.

    Nhân dân đóng góp vào ngân sách Nhà nước nhưng Ðảng lại sử dụng và chỉ đạo ngân sách. Ngân sách Nhà nước phải đài thọ hoạt động của Ðảng. Hiện Ðảng cảm thấy ngượng về việc này và tìm cách giảm nhẹ Ðảng dùng ngân sách Nhà nước để trợ cấp các tổ chức xã hội “của Ðảng” như: Thanh niên, Phụ nữ , Mặt trận…v…v… Riêng các Hội Văn học nghệ thuật cũng được trợ cấp hàng vài tỷ mỗi năm.

    Các chủ trương chính sách về kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội đều do các chuyên gia ở các ngành thuộc cơ quan tư vấn nghiên cứu và chuẩn bị. Nhưng những nội dung chuẩn bị đó chưa có dấu ấn của chỉ thị và Nghị quyết của Ðảng đều chưa có giá trị. Như vậy cơ quan cao nhất của Ðảng đều phải có ý kiến chỉ đạo về chuyên môn cho các học giả và đều phải phê và duyệt các sản phẩm nghiên cứu của các chuyên gia.

    Ai cũng biết là Ban chấp hành Trung ương không thể là nơi hội tụ các chuyên gia. Bộ chính trị lại càng không thể. Vậy là người không chuyên và không giỏi lại chỉ đạo và phê duyệt ý kiến của những người chuyên và giỏi. Như vậy có hai khả năng hoặc là chỉ phê bừa chẳng biết hay dở, hai là phê cả những cái sai và có hại. Nghị quyết Ðại hội bao gồm nhiều chính sách chi tiết về kinh tế và sản xuất, kể cả việc trồng cây gì, nuôi con gì. Và đã là Nghị quyết thì cứ bắt dân phải theo trong khi đó nếu họ được tự do thì họ có muôn nghìn cách để làm ăn phù hợp với môi trường sống và điều kiện sống của người ta, nhưng Ðảng cứ nắm quyền “cho phép”.

    Chế độ độc đoán Toàn trị có rất nhiều cái dở. Việc này cả thế giới đều biết đã nói và lên án. Bản thân Ðảng cũng không dám nhận là mình thực hành sự toàn trị, nhưng sửa thì không chịu sửa. Do thực hiện toàn trị mà sức mình thì đuối cho nên Ðảng cứ phải tập trung nỗ lực vào sự củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng. Không cho một cá nhân hay một nhóm nào len vào được. Và sự nỗ lực này thì nhằm đối tượng vào đâu?

    Ngày xưa Ðảng lãnh đạo cùng nhân dân tập trung vào kẻ địch ngoại xâm và tay sai. Ngày nay Ðảng lại phải tập trung vào đối tượng là nhân dân và nhất là những người trung thực muốn nói lên sự thật, những người có đầu óc tiến bộ muốn đóng góp ý kiến của mình với người lãnh đạo quốc gia để đất nước có sự chuyển biến tích cực thực sự. Ðảng càng ngày càng phải trốn tránh sự thực và bóp méo sự thật. Muốn hay không muốn, để củng cố, tăng cường mình Ðảng phải lừa bịp nhân dân, dối trá nhân dân, hăm doạ nhân dân. Vì nhân dân là người nắm sự thật và biết rất rõ sự thật.

    III. Vì sao, vì đâu?

    Như vậy, ở phần trên đây bằng cả cuộc sống đã diễn ra, tư duy và sự hiểu biết của tôi đã được trình bày 2 bức tranh: Ðảng Cộng sản và xã hội Việt Nam trước đây từ 1930 đến 1975. Ðảng Cộng sản và xã hội Việt Nam hiện nay (cuối thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21). Rõ ràng nó đã có sự biến đổi từ A trở thành Z. Nó đã biến đổi thành 2 bức tranh trái ngược hẳn nhau như trắng với đen, như ngày và đêm. Nói một cách thật tóm tắt thì Ðảng Cộng sản Việt Nam đã từ một Ðảng chiến đấu, sống trong dân và vì dân đã trở thành một Ðảng cầm quyền cai trị dân, xa dân, đối lập với dân, thậm chí đè nén, áp bức dân và bóc lột, hà hiếp dân.

    Vì Ðảng Cộng sản ra sức củng cố và tăng cường vai trò của mình trong chế độ độc Ðảng toàn trị, cho nên đối tượng đấu tranh của Ðảng là nhân dân và những người trung thực. Những di sản dân chủ của những năm 40, 50, 60, 70 có còn chút nào không ?. Nó vẫn còn nhiều giá trị. Nhưng đã có nhiều sự biến đổi, biến dạng và cả biến chất nữa.

    Cái biến đổi lớn nhất là từ tên nước Cộng hoà dân chủ (Việt Nam dân chủ Cộng hoà) với một Nhà nước đoàn kết toàn dân (nhiều Ðảng, nhiều nhân sĩ trí thức ngoài Ðảng) và một thể chế thực chất dân chủ có: Quốc hội do bầu cử, ứng cử tự do, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do xuất bản và in ấn … các quyền công dân này được đảm bảo. Quan hệ giữa Nhà nước với dân, giữa công dân với nhau là quan hệ anh em đồng chí. Nay đổi sang là Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa với một chế độ Ðộc Ðảng toàn trị. Các Ðảng ngoài Ðảng Cộng sản Việt Nam đều bị tiêu diệt, các quyền tự do dân chủ cơ bản của công dân (trong đó cả quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng) bị triệt tiêu, thủ tiêu trên thực tế, chỉ còn lại những mỹ từ, chữ nghĩa hoa mỹ ghi trong Hiến pháp. Quan hệ Ðảng với Nhà nước là quan hệ Cha-con, quan hệ giữa Ðảng với Nhà nước và nhân dân là quan hệ giữa quan lớn và dân đen. Một xã hội nghẹt thở mỗi người đều có nhiều nỗi sợ: sợ nhau, sợ Công an, sợ quan, sợ âm mưu, sợ lừa bịp, sợ dối trá. Thậm chí trong từng gia đình, từng dòng họ… có sự chia rẽ phân biệt người theo Cộng sản và người không theo Cộng sản rất gay gắt.

    Vậy từ đâu, từ ai mà có hai sự trái ngược ghê ghớm ấy.

    Các giá trị còn lại có được là chế độ cộng hoà nhưng chất lượng đã thay đổi. Những quan hệ tốt đẹp trước đây còn được giữ ít nhiều trong nhân dân như những truyền thống. Còn thì không ai từ khoảng 40, 50, hoặc 60, 70 tuổi trở lên không trăn trở và đau đớn, tiếc thương những ngày tươi đẹp ngày xưa. Câu than thở và mong ước “Bao giờ cho đến ngày xưa” nó hàm chứa một sự thật cay đắng, uất nghẹn.

    Vậy vì đâu và vì sao???

    Sự biến đổi nó diễn ra từ từ qua năm tháng nó biến đổi chút một chút một, khó nhận thấy. Cho đến năm 1975 thì nó có một bước ngoặt nước ta thu được một thắng lợi vĩ đại có tầm cỡ thế giới, Ðảng Cộng sản được tôn vinh rực rỡ và cũng xứng đáng. Thế rồi, những người lãnh đạo Cộng sản với tính kiêu ngạo sẵn có bốc đồng lên vội vàng đổi tên nước, tên Ðảng, đặt ra những mục tiêu xây dựng Xã hội chủ nghĩa trong cả nước. Rồi những khẩu hiệu oang oang mà rỗng tuếch được hô hoán rầm rộ: “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” ! Với những tham vọng đầy hoang tưởng, đẩy đất nước vào vòng khốn khổ, khốn nạn. Cho đến tận năm 1986 hơi tỉnh được một chút nên đã cứu nguy cho đất nước khỏi sa vào vực thẳm. Nhưng sau đó, với tư duy bảo thủ giáo điều, tìm mọi cách kìm hãm đổi mới, không chịu đổi mới chính trị, không chịu dân chủ hoá đất nước, đẩy đất nước tiến sâu vào con đường “độc Ðảng, toàn trị” không dân chủ và phản dân chủ, phản Cách mạng, phản tiến hoá, phản bội nhân dân.

    * * *

    Cho nên nguyên nhân cơ bản và sâu xa của sự biến dạng (hay biến chất) này là sự tư duy thấp kém, bảo thủ giáo điều trì trệ, cần phải thấy rõ sự xuống cấp về trình độ của các thế hệ lãnh đạo, thế hệ đầu với Hồ Chí Minh và các học trò gần gũi của Người đều là những trí thức, nhiều danh vọng trong xã hội, có lịch sử đấu tranh Cách mạng gian khổ và quyết liệt. Thế hệ tiếp sau thì kém đi một bậc nhưng còn ở mức trung bình. Thế hệ sau nữa thì ở dưới mức trung bình, thực ra sự thật này dân đều biết hết và đánh giá như vậy. Các bậc lão thành đã qua các triều đại cũng thấy rõ như vậy. Một số yếu tố quan trọng tác động vào sự biến dạng, biến chất mang tính mất dân chủ là các tính tình bình thường của những người lãnh đạo là thích khen, thích nịnh, thích thành tích, sợ sự thật, sợ “trung ngôn, nghịch nhĩ”… và không đổi mới tư duy, đầu óc đầy tư duy bảo thủ giáo điều, cổ hủ. Nếu so với các chế độ vua quan phong kiến mạt vận ngày trước thì những bậc quan lại “đỏ” ngày nay của cái “triều đình phong kiến” Việt Nam mang nhãn hiệu Cộng hoà xã hội chủ nghĩa cũng chẳng khác là bao! Cái thứ tư duy vừa thấp kém, lại bảo thủ giáo điều không có khả năng nhận thức được các điểm về tình hình như sau:

    a. Sau 1975 nước ta đã bước hẳn sang một kỷ nguyên mới. Từ chiến tranh sang hoà bình, từ chiến đấu sang xây dựng, từ chia cắt sang thống nhất. Giới lãnh đạo không làm một cuộc tổng kiểm điểm và nhận thức sâu sắc, rõ ràng những cái mới, nhận rõ những cái cũ không hợp thời để mà rũ bỏ đi, để học tập cái mới. Ðại hội VI đã chỉ ra bệnh nặng là chủ quan duy ý chí và bệnh quan liêu bảo thủ, giáo điều, nhưng sự chữa bệnh không triệt để nên các bệnh đó còn kéo dài cho đến tận bây giờ.

    b. Không chịu có một nghiên cứu kỹ và sâu thực trạng xã hội Việt Nam để thấy rõ tất cả sự lạc hậu kém cỏi, để nhận biết điểm xuất phát của mình, cũng như không nhận biết được những thuận lợi và những khả năng để phác họa được đường lối phát triển đất nước cho thích hợp. Ðại hội VI làm việc ấy, nhưng còn “bộ phận” và nửa chừng, để ứng phó kịp thời, như thế đã là tốt lắm. Cái nguy hiểm là các giới lãnh đạo kế tiếp nhau từ thời điểm sau 1975 đã “bị bỏ tù” trong cái khuôn khổ tù ngục: “Thắng lợi rồi thì tiến lên xã hội chủ nghĩa” một cách thô sơ và giáo điều cứng nhắc.

    c. Không chịu nhận thức sâu sắc sự biến chuyển thế giới mới. Ðặc biệt là sau sự biến thế giới XHCN sụp đổ tan hoang. Thế giới không còn 2 phe, các dân tộc phải sống chung, nhất là không nhận thức được sâu sắc yêu cầu xoá bỏ hận thù hướng tới tương lai mà vẫn còn thấy nhiều kẻ thù như cũ, chỗ nào cũng thấy âm mưu đế quốc và âm mưu Mỹ Nguỵ, không thực tâm đại đoàn kết, nhấn mạnh cái gọi là “âm mưu diễn biến hoà bình” của một kẻ địch nào đó mà khống thấy rằng đang có một sự diễn biến ngay trong Ðảng và trong nhân dân. Vì vậy không có đủ căn cứ khoa học để phác họa và hoạch định các chiến lược phát triển đất nước, vẫn cứ vùi đầu vào các kế hoạch 5 năm và 10 năm đầy tham vọng và hão huyền.

    Trong khi đó vẫn còn có những người lãnh đạo có những bản tính thông thường của con người. Ðiều đó biểu hiện ở chỗ: – Mang nặng tư duy giáo điều, bảo thủ không tự giác thấy bản tính nặng nề này. Ðại hội VI đã chỉ ra rất trúng rằng. Ðổi mới thì trước hết đổi mới tư duy. Nhưng từ đó đến nay, tư duy vẫn như cũ, không hề có thay đổi đáng kể nào? Có chăng sự thay đổi chỉ là những khẩu hiệu suông hô toáng lên, ngày một to hơn, gào thét hơn mà thôi. – Mang nặng tư duy say sưa thắng lợi, nặng thói kiêu ngạo Cộng sản, thích ca tụng, thích tung hô, không muốn nghe nói thẳng, còn mang nặng thói “được thỏ, bẻ nỏ” “săn xong, giết chó” loại bỏ và trừ khử các công thần. Bất cứ cái chết nào của những công thần, danh tướng đều dấy lên những nghi ngờ trong nhân dân, trong xã hội. Nhân dân mất dần lòng tin vào giới lãnh đạo. Tuy Ðảng và Nhà nước có làm được một số chính sách tốt về đền ơn đáp nghĩa đối với các bà mẹ, các lão thành và các thương binh cựu binh. Nhưng những việc ấy không đủ để xoá bỏ những nghi ngại và không bằng lòng trong nhân dân và nhất là trong lão thành và tri thức.

    d. Một điều nữa là tình hình thế giới biến chuyển lớn quá, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc và rộng lớn. Sự việc thế giới XHCN biến mất, bức tường Béc-Lin bị san bằng, nước Ðức hoà bình thống nhất, mang lại cho thế giới bộ mặt hoàn toàn mới mẻ. Gần đây cuộc khủng bố kinh thiên động địa ngày 11/9 ở Mỹ đang đưa thế giới vào một cục diện mới, có sự phân chia và tập hợp mới và đang diễn biến không lường trước được. Bộ phận lãnh đạo với tư duy xưa cũ và thấp kém lại không biết, không chịu thu thập nghe theo các ý kiến của các bác học, học giả trong ngoài nước, tổ chức thảo luận rộng rãi để tìm ý kiến hay. Nói tóm lại là yếu tố quyết định của sự biến đổi biến dạng (hay biết chất) này là chủ yếu là do tư duy của lãnh đạo, cộng vào đó là tình trạng không dân chủ nặng nề và kéo dài. Vì vậy giới lãnh đạo phải chịu trách nhiệm nặng nề và chủ yếu trước dân tộc, đất nước và lịch sử. Sự lý giải này của tôi có thể chưa thoả đáng, nhưng sự biến đổi trắng- đen và đêm – ngày thì là một sự thực và cần lý giải, tôi không ngại ngần đưa ra trước sự lý giải này.

    IV. Ði tìm đường ra

    Như thế là nói bao quát thì ta có 2 bức tranh trái ngược.

    A. Từ những năm 1940, 1950…1975 ta có một Ðảng Cộng sản chiến đấu ở trong dân, thực sự của dân và chịu gian khổ hy sinh vì dân. Do đó, có một xã hội với chế độ cộng hoà dân chủ, một nhà nước đoàn kết rộng rãi.

    B. Còn hiện nay, ta đang có nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa, với một nhà nước do Ðảng cộng sản lãnh đạo, nắm chặt trong tay, sai khiến nhà nước với một chế độ Ðộc Ðảng và toàn trị. Một xã hội không có dân chủ, phát triển chậm, đang tụt hậu so với các nước trong vùng và so với thế giới. Ðảng cộng sản không che dấu điều này mà công khai phê phán tình trạng mất dân chủ và tham nhũng, công khai kêu gọi củng cố lãnh đạo độc quyền của mình và gạt bỏ mọi ý kiến khác, cho những ý kiến đó là chống đối cần phải trừng phạt. Nên Ðảng và Nhà nước đã huy động một bộ máy tuyên truyền vĩ đại làm việc này, huy động và sử dụng toàn bộ bộ máy nhân danh bảo vệ luật pháp (Toà án, Viện kiểm sát, Công an) vào việc đàn áp này. Ta có một xã hội đang phát triển chậm và không có dân chủ. Ða số người dân sống trong lo sợ, lo sợ bộ máy nhà nước, lo sợ lẫn nhau, lo sợ thông tin đại chúng. Phát triển chậm và mất dân chủ là 2 đặc điểm của xã hội hiện nay, mà các nhà lãnh đạo nhiều khi đã chính thức và công khai phát biểu. Vậy mà ý kiến chính thức của nhà nước (bao gồm cả Ðảng) cho rằng cần khắc phục tình trạng xã hội bằng cách tăng cường và củng cố thể chế hiện tại. Ðó là điều vô lý và nhất định là không được. Như thế chỉ có đi vào ngõ cụt và làm cho tình hình ngày càng phức tạp mà hậu quả không lường được. Vậy phải tìm đường khác.

    Con đường đó phải có 2 yếu tố:

    1. Phải phát triển nhanh.

    2. Phải dân chủ hoá xã hội.

    Có dân chủ, thì về kinh tế, dân được tự do làm ăn, tự do đua tranh và cạnh tranh kinh tế , mới có điều kiện phát triển nhanh. Về chính trị, xã hội phải thực hiện dân chủ mới chống được tham nhũng vì toàn dân tích cực tham gia. Có tự do ngôn luận (tự do báo chí, xuất bản, tự do phát biểu ý kiến, tự do tư tưởng …) mới thu hút mọi người dân nhất là trí thức, lão thành, cựu chiến binh cao cấp nô nức phát biểu ý kiến. Những ý kiến đó cần được tôn trọng, thu thập và sử dụng những ý kiến đó mới vạch trần và phê phán mọi thiếu sót, bất hợp lý trong chủ trương chính sách, vạch trần mọi khiếm khuyết trong việc quản lý xã hội của nhà nước. Có thực sự bầu cử ứng cử tự do, dân mới tích cực tìm được người xứng đáng đại biểu của mình vào các cương vị trong bộ máy nhà nước. Như thế nhà nước mới vững mạnh xã hội mới lành mạnh. Ðừng cho rằng nhà nước càng nhiều Ðảng viên thì nhà nước càng mạnh, rồi cứ xếp bừa các đảng viên vào cơ quan nhà nước và ra sức phát triển Ðảng trong cơ quan nhà nước. Mọi người đều thấy rõ nhiều Ðảng viên rất kém về tri thức và kiến thức, rất dốt về quản lý và tồi tệ về tư cách cho nên càng nhiều đảng viên thì càng nhiều thành phần kém và dốt. Ngày xưa tranh quyền lãnh đạo cho Ðảng là Ðảng giành lấy sự hy sinh gian khổ. Ngày nay tranh sự lãnh đạo mà lại độc Ðảng, thì chỉ có là tham quyền cố vị và phản dân chủ.

    * * *

    Qua trình bày trên, rõ ràng con đường đi ra phải là con đường có tính cơ bản toàn cục và toàn diện, chứ không phải là sự khắc phục các mặt cụ thể vụn vặt ở chỗ này chỗ khác. Con đường đi ra là con đường đau đớn nó đụng đến những nơi hiểm yếu nhất của cơ thể. Nó phải chữa từ gốc của vấn đề. Ðó là vấn đề thể chế chính trị. Nó đau đớn lắm. Nhưng như cổ nhân nói “Thuốc đắng mới dã tật”. Việc này chỉ có tự Ðảng cộng sản làm, nghĩa là Ðảng phải tự đổi mới mà Ðảng đứng ra làm, thì Ðảng vẻ vang hơn, công lao Ðảng to lớn hơn; Ðảng hiện nay sẽ xứng đáng với Ðảng tiền bối, xứng đáng với Bác Hồ (Bác Hồ đã từng tuyên bố giải tán Ðảng và đổi tên Ðảng).

    Ðó là Ðảng Cộng sản phải tự mình từ bỏ chế độ độc Ðảng, toàn trị, khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện (đúng Hiến Pháp) tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Ðó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập Ðảng, luật tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử, ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Ðảng, từ bỏ “hiệp thương” do Mặt trận Tổ quốc các cấp dàn xếp mà thực chất là sự gò ép, chỉ đạo hoàn toàn của Ðảng đứng đằng sau …

    Làm bằng ấy việc là Ðảng tự cải cách và đổi mới và là sự đổi mới thực sự chứ không phải Ðảng kêu gọi mọi người đổi mới, còn mình Ðảng thì cứ y nguyên. Còn các việc làm tiếp sau sẽ là hệ quả tốt đẹp. Các nhà “lưỡi gỗ” đừng vội kêu lên như thế là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng cộng sản, đấy là định thay thế vai trò của Ðảng cộng sản, thực tế là nâng cao vai trò lãnh đạo của Ðảng đấy. Vì nâng cao vai trò là ở chỗ có những chủ trương đúng và hay, chứ không phải là nhiều cờ quạt, khẩu hiệu loè loẹt, nhiều tung hô, nhiều muôn năm vạn tuế. Ðảng mà chủ trương đổi mới như trên thì Đảng tỏ ra thực sự tài tình và không còn sợ ai làm giảm sút uy tín nữa cả (**). Trên thực tế lịch sử thì trước đây và bây giờ, chưa ai có thể thay thế được Ðảng Cộng sản. Chỉ trừ khi Ðảng tự mình hạ thấp bằng mình những cái dốt và cái kém làm xã hội ngày càng nhiễu nhương, dân mất tin tưởng ngày càng lớn thì chính Ðảng là người tự hạ bệ và dân cũng sẽ giúp hạ bệ Ðảng nhanh hơn, gọn hơn.

    * * *

    Nói khác đi là để có con đường thoát khỏi tình hình rối ren phức tạp của đất nước hiện nay thì chỉ có con đường thực sự dân chủ hoá, tức là thực sự thực hiện dân chủ đúng như Hồ Chí Minh đã chọn lựa, thì mới làm cho toàn dân phấn khởi yên vui, phấn khởi huy động được trí tuệ toàn dân để khắc phục mọi trở ngại mà đưa đất nước phát triển nhanh, ứng phó sáng suốt mọi quan hệ đối ngoại phức tạp và tế nhị hiện nay. Không nên chỉ bằng lòng với việc thêm chữ dân chủ vào khẩu hiệu chiến lược mà mọi việc vẫn y nguyên. Cần phải đả phá, đấu tranh thật mạnh với một ý kiến sai lầm là cứ “dân chủ mở rộng thì dân sẽ làm loạn”. Ðó mới chính là luận điệu phản động, cực kỳ phản động. Trên thực tế, sự kiện Thái Bình và sự kiện Tây Nguyên có phải là do dân chủ quá rộng không hay là do chính sự thiếu dân chủ và những sai lầm trong chính sách, sự không thu thập ý kiến của các trí thức văn nghệ sĩ…??? ý kiến muốn Ðảng thực sự đổi mới tức là phải cải cách Ðảng như ý kiến trình bày. Ðây mới thực sự là ý kiến để tăng cường (nâng cao) và củng cố sự lãnh đạo của Ðảng. Ðảng không nên mang mãi bộ mặt phản dân chủ mà Ðảng cần nêu gương sáng về thực hiện dân chủ.

    * * *

    Con đường ra đã rõ ràng. Cần dân chủ hoá đất nước mà trong công cuộc này vai trò Ðảng cộng sản là quyết định. Hãy nên:

    1. Từ bỏ thể chế độc Ðảng, toàn trị chấp nhận thể chế đa nguyên: Quá trình dân chủ của thời đại dân chủ, trước sau cũng phải đi tới đa nguyên. Chế độ độc Ðảng hiện nay đã quá lạc hậu.

    2. Thực hiện thật sự mấy quyền dân chủ cơ bản: Tự do bầu cử, ứng cử. Tự do báo chí, xuất bản và ấn loát. Tự do lập hội, lập Ðảng và tự do hội họp.

    3. Thực hiện thật sự quên quá khứ: Xoá bỏ hận thù, đoàn kết rộng rãi nhân dân Việt Nam trong nước ngoài nước, xoá bỏ triệt để thành kiến phân biệt địch ta: Nguỵ và Chính, người trong nước và tay sai đế quốc nước ngoài. Thực hiện hoà hợp và hoà giải dân tộc, đoàn kết mọi người Việt Nam yêu tổ quốc và thiết tha với sự nghiệp tái thiết đất nước tới hùng cường và dân chủ tiến bộ. Trong khi chỉ cần giữ sự cảnh giác đúng mức.

    4. Thực hiện chính xác và thực thà: Những phương châm đối ngoại đã có “Việt Nam muốn làm bạn với mọi người”, “Ðộc lập đa phương, đa dạng …”. Tôi nhấn mạnh chính xác và thực thà là muốn trừ bỏ cái tư duy địch – ta trong đầu óc nhiều người. Tôi muốn nhấn mạnh rằng phải đổi mới tư duy, ta chỉ nên cảnh giác với những kẻ địch thật, còn đừng có tưởng tượng lắm thứ kẻ địch, thậm chí muốn tìm cả địch còn trong trứng để bóp chết, như thế đất nước khó yên bình. Kẻ địch có thật của ta bây giờ có không? Có! Ðó là tình trạng mất dân chủ và sự tham nhũng; hãy dùng các thủ đoạn cảnh giác đối với 2 kẻ thù tham nhũng và phản dân chủ.

    * * *

    Bàn đến đây, tôi thấy là thật sự đã đụng đến các vấn đề đường lối, và những điều tôi đề cập đến nó là vấn đề đường lối. Ta không đi thẳng vào nó mà giải quyết thì cứ loanh quanh ở bên ngoài mà không khi nào có hiệu lực. Ðụng đến vấn đề đường lối thì đau nhưng cũng như chữa bệnh phải chịu đau (thuốc đắng, mổ và cắt) mới khỏi được bệnh. Tôi cứ mạnh dạn đưa ra, mong được nghe nhiều ý kiến chung quanh vấn đề này. Chủ đề “Ngày xưa … ngày nay” là một chủ đề tôi và các bạn kháng chiến của tôi trăn trở, tự hỏi cả chục năm nay. Ðến nay tôi mới diễn giải được nó ra đây. Tôi không cần thanh minh, động cơ tôi viết bài này. Tôi định viết một tiểu luận nhưng nhiều xúc cảm nó cứ đưa đẩy ngòi bút thành bài viết không thể có hình thức chính luận, tôi bèn bịa ra cho nó một cái tên hỗn hợp là “Bút ký-tiểu luận” mong bạn đọc thông cảm. Té ra thực sự Ðảng ta có vấn đề đường lối thật. Các Ðại hội của Ðảng lần VIII và IX chỉ mới đụng đến sơ sơ. Tôi mong những ý kiến của tôi có góp phần gợi ý cho sự chuẩn bị Ðại hội X. Ðại hội X, có người còn nghi ngờ có được hay không? Tôi thì tôi tin nó sẽ có. Xin chờ đợi các ý kiến trao đổi.

    Viết xong ngày 20 tháng 11 năm 2001 tại Hà Nội

    Trần Ðộ

    Bình luận bởi Lac Viet | Tháng Hai 3, 2012 | Phản hồi

  8. Tôi ngỡ ngàng với cách cưỡng chế đó, thật là quá tàn bạo.

    Bình luận bởi minh nhat | Tháng Hai 23, 2012 | Phản hồi

  9. http://chauxuannguyen.wordpress.com/2012/07/16/con-duong-thau-tom-sabeco-phan-1/

    Em thay bai viet nay rat hay. NEu qua that nhu vay thi dung la dat nuoc minh gay that roi!

    Bình luận bởi young danang | Tháng Bảy 25, 2012 | Phản hồi

  10. Lê Anh Hùng là một người đàn ông sinh năm 1973 tại Hà Tĩnh, tốt nghiệp đại học Kinh Tế Quốc Dân, có thời gian làm việc tại Petro Vietnam, là dịch giả của những cuốn ách nổi tiếng về kinh tế, nhà nước và pháp luật. Vợ anh là Lê Thị Phương Anh, sinh năm 1984 tại Quảng Trị, từng là một cán bộ xuất sắc của công ty May Việt Tiến và tổng công ty may VN (Vinatex). Hộ khẩu thường trú của họ thuộc tổ 2 cụm 5 Khương Đình, HN.

    Do vị trí làm việc và do những tố chất phải nói là rất đặc biệt, Lê Thị Phương Anh được nhiều quan chức cấp cao chú ý và quý mến. Có ít nhất 5 quan chức đã nhận cô làm con nuôi (mặc dù cô không hề muốn) là Nguyễn Đình Trường TGĐ Việt Tiến, Lê Quốc Ân chủ tịch Vinatex, Hoàng Trung Hải (phó thủ tướng), Nguyễn Tấn Dũng (TT) và Nông Đức Mạnh (cựu tổng bí thư ĐCSVN). Do gần gũi những quan chức đó, Lê Thị Phương Anh và Lê Anh Hùng có điều kiện chứng kiến những tội ác tày trời của bọn họ, đặc biệt là 3 tên HTH, NTD và NĐM cùng với những ủy viên BCT khác.

    Những tội ác của bọn người này mà hai vợ chồng Lê Thị Phương Anh và Lê Anh Hùng đã phát hiện ra và Lê Anh Hùng đứng tên tố cáo là ghê gớm và tởm lợm đến mức nhiều người cảm thấy không thể nào tin được. (Chúng còn ghê gớm hơn cả những tư liệu mà Quan Làm Báo đưa ra trong mấy tháng gần đây.) Họ cho rằng hoặc Lê Anh Hùng là kẻ hoang tưởng, hoặc cố tình bịa ra nhằm bôi nhọ lãnh đạo để phục vụ một ý đồ nào đó, ví dụ để lấy tiền của ‘các thế lực thù địch’ từ bên ngoài. Một số người cũng cho rằng một cán bộ ‘không to’ ở một công ty làm gì có điều kiện tiếp xúc sâu với những nhân vật quyền lực bậc nhất như vậy để mà biết những chuyện tày trời đó.

    Nếu những chuyện mà Lê Anh Hùng nêu ra để tố cáo bọn người kia là đúng cả hay chỉ cần đúng một phần thì có thể nói rằng cái BCT tập đoàn lưu manh tự xưng đảng CSVN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc đã phá tan nát đất nước, tàn phá lương tri và làm nền đạo đức suy đồi.

    Vậy chúng ta hãy suy xét để có cái nhìn đúng về Hồ Sơ của Lê Anh Hùng.

    Trước hết, Hồ Sơ của Lê Anh Hùng gồm có:

    1) Những thông tin cá nhân về Lê Anh Hùng và Lê Thị Phương Anh, trong đó có chứng minh thư, địa chỉ, số điện thoại.

    2) Đơn tố cáo các nhân vật NĐM, NTD và HTH.

    3) Hồ sơ tội ác của các nhân vật bị tố cáo (dưới dạng truyện kể về những sự kiện mà hai vợ chồng phải trải qua).

    4) Nhật ký của Lê Anh Hùng.

    5) Blog của Lê Anh Hùng (leanhhungblog.blogspot.com), trên đó công bố một phần Hồ Sơ cũ và vẫn liên tục xuất hiện các bài viết mới của Lê Anh Hùng.

    Ta hãy thử trả lời các câu hỏi sau.

    1. Liệu Lê Anh Hùng có bị bệnh tâm thần hoặc mắc chứng hoang tưởng không?

    Dưới sự sai bảo của chính những kẻ bị tố cáo, người ta đã ép Lê Anh Hùng phải vào bệnh viện khám và kết luận anh bị bệnh tâm thần, rồi bắt điều trị một thời gian, kể cả tiêm thuốc hòng làm hại anh. Tuy nhiên, những ai đã đọc qua Hồ Sơ của anh sẽ thấy: nếu đó là một người bị bệnh tâm thần hoặc hoang tưởng thì chính những căn bệnh đó đã biến Lê Anh Hùng thành một người giỏi giang hơn hầu hết mọi người chúng ta. Hồ Sơ của anh chứa đựng hàng trăm sự kiện, với hàng ngàn chi tiết được sắp xếp hợp lý, kèm theo chỉ dẫn về thời gian, địa điểm và những nhân vật tham gia hết sức cụ thể. Có thể nói, một nhà văn viết truyện hình sự bậc thầy trên thế giới cũng không thể hư cấu ra một hệ thống sự kiện phức tạp như vậy, đặc biệt khi nó liên quan đến những nhân vật mà cả nước ai cũng biết và được cả nước ngoài chú ý.

    Nếu hỏi tôi có muốn mắc chứng hoang tưởng hay bệnh tâm thần kiểu đó hay không, tôi xin trả lời: Rất muốn.

    Cũng nên nhớ rằng Lê Thị Phương Anh đã xác nhận chồng mình không hề bị bệnh tâm thần.

    2. Có phải Lê Anh Hùng cố tình bịa chuyện hay không?

    Để trả lời câu hỏi này, trước hết quý vị hãy tự hỏi: Liệu quý vị có sẵn lòng bịa ra và công bố một hồ sơ như thế hay không?

    Nếu đã không phải là bị bệnh tâm thần, hoặc bị tâm thần mà vẫn thông minh đến như thế, đồng thời không được chứng kiến tận mắt sự khốn kiếp của những kẻ đang nắm trong tay vận mệnh dân tộc, thì quý vị chắc chắn không bịa ra những chuyện như vậy làm gì.

    Người tung ra những chuyện như vậy chỉ có thể là người trực tiếp chứng kiến, và thấy đau đớn cho vận mệnh của cả một dân tộc. Người khác, dù có chứng kiến nhưng thiếu lương tri, sẽ không công bố, bởi không muốn hứng chịu bao nhiêu tai họa. Còn bịa ra và công bố để chơi thì đúng là chỉ có kẻ điên. Mà điên thì lại không sáng tác đến cỡ đó được!

    3. Chúng ta có thể kiểm tra độ xác thực của những sự kiện mà Lê Anh Hùng đề cập đến trong Hồ Sơ hay không?

    Nếu quý vị chịu khó theo dõi thời sự nước nhà, dù chỉ qua truyền thông lề phải thôi, quý vị sẽ thấy có những sự kiện lạ đời đến mức không thể tìm được cách giải thích nào, nếu không tin vào những chuyện của Lê Anh Hùng. Chẳng hạn, về cái kết quả quái đản của hội nghị TW-6 của tập đoàn lưu manh tự xưng ĐCSVN, quý vị có thể giải thích cách gì, nếu không thừa nhận rằng nội tình tập đoàn đó là những cuộc đấu đá, nhè miếng nhau và những thỏa thuận ngầm đê tiện như trong Hồ Sơ Lê Anh Hùng, kèm theo sự giật giây từ phía chính quyền Bắc Kinh?

    Bằng việc hàng ngày theo dõi từng động thái của các quan chức chóp bu ĐCSVN, chúng ta đều thấy rõ đó là một tập đoàn tàn phá đất nước. Tuy nhiên, có những sự kiện mà chúng ta không tìm được đáp án duy nhất để giải thích, do nội tình ĐCSVN bị bưng bít. Trong bối cảnh đó, Hồ Sơ Lê Anh Hùng đã xé toang bức màn đen, cho chúng ta thấy những trò bỉ ổi đê tiện của một trong những tập đoàn cầm quyền thối tha nhất trong lịch sử nhân loại.

    Nếu quý vị cho rằng trong những điều Lê Anh Hùng kể chỉ có một phần là sự thật, thì tôi xin nói rằng ngay cả như thế đi nữa thì chân dung bọn cầm quyền cũng đã xấu xa bẩn thỉu lắm rồi.

    Vì vậy, HÃY ĐỌC HỒ SƠ LÊ ANH HÙNG, TRUYỀN BÁ HỒ SƠ LÊ ANH HÙNG, để mọi người ngày càng thấy rõ bộ mặt thật của giới cầm quyền Việt Nam.

    TẠ NHẤT LINH

    Bình luận bởi TẠ NHẤT LINH | Tháng Mười 27, 2012 | Phản hồi

  11. HỒ SƠ LÊ ANH HÙNG CÓ ĐÁNG TIN CẬY KHÔNG?

    Lê Anh Hùng là một người đàn ông sinh năm 1973 tại Hà Tĩnh, tốt nghiệp đại học Kinh Tế Quốc Dân, có thời gian làm việc tại Petro Vietnam, là dịch giả của những cuốn ách nổi tiếng về kinh tế, nhà nước và pháp luật. Vợ anh là Lê Thị Phương Anh, sinh năm 1984 tại Quảng Trị, từng là một cán bộ xuất sắc của công ty May Việt Tiến và tổng công ty may VN (Vinatex). Hộ khẩu thường trú của họ thuộc tổ 2 cụm 5 Khương Đình, HN.

    Do vị trí làm việc và do những tố chất phải nói là rất đặc biệt, Lê Thị Phương Anh được nhiều quan chức cấp cao chú ý và quý mến. Có ít nhất 5 quan chức đã nhận cô làm con nuôi (mặc dù cô không hề muốn) là Nguyễn Đình Trường TGĐ Việt Tiến, Lê Quốc Ân chủ tịch Vinatex, Hoàng Trung Hải (phó thủ tướng), Nguyễn Tấn Dũng (TT) và Nông Đức Mạnh (cựu tổng bí thư ĐCSVN). Do gần gũi những quan chức đó, Lê Thị Phương Anh và Lê Anh Hùng có điều kiện chứng kiến những tội ác tày trời của bọn họ, đặc biệt là 3 tên HTH, NTD và NĐM cùng với những ủy viên BCT khác.

    Những tội ác của bọn người này mà hai vợ chồng Lê Thị Phương Anh và Lê Anh Hùng đã phát hiện ra và Lê Anh Hùng đứng tên tố cáo là ghê gớm và tởm lợm đến mức nhiều người cảm thấy không thể nào tin được. (Chúng còn ghê gớm hơn cả những tư liệu mà Quan Làm Báo đưa ra trong mấy tháng gần đây.) Họ cho rằng hoặc Lê Anh Hùng là kẻ hoang tưởng, hoặc cố tình bịa ra nhằm bôi nhọ lãnh đạo để phục vụ một ý đồ nào đó, ví dụ để lấy tiền của ‘các thế lực thù địch’ từ bên ngoài. Một số người cũng cho rằng một cán bộ ‘không to’ ở một công ty làm gì có điều kiện tiếp xúc sâu với những nhân vật quyền lực bậc nhất như vậy để mà biết những chuyện tày trời đó.

    Nếu những chuyện mà Lê Anh Hùng nêu ra để tố cáo bọn người kia là đúng cả hay chỉ cần đúng một phần thì có thể nói rằng cái BCT tập đoàn lưu manh tự xưng đảng CSVN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc đã phá tan nát đất nước, tàn phá lương tri và làm nền đạo đức suy đồi.

    Vậy chúng ta hãy suy xét để có cái nhìn đúng về Hồ Sơ của Lê Anh Hùng.

    Trước hết, Hồ Sơ của Lê Anh Hùng gồm có:

    1) Những thông tin cá nhân về Lê Anh Hùng và Lê Thị Phương Anh, trong đó có chứng minh thư, địa chỉ, số điện thoại.

    2) Đơn tố cáo các nhân vật NĐM, NTD và HTH.

    3) Hồ sơ tội ác của các nhân vật bị tố cáo (dưới dạng truyện kể về những sự kiện mà hai vợ chồng phải trải qua).

    4) Nhật ký của Lê Anh Hùng.

    5) Blog của Lê Anh Hùng (leanhhungblog.blogspot.com), trên đó công bố một phần Hồ Sơ cũ và vẫn liên tục xuất hiện các bài viết mới của Lê Anh Hùng.

    Ta hãy thử trả lời các câu hỏi sau.

    1. Liệu Lê Anh Hùng có bị bệnh tâm thần hoặc mắc chứng hoang tưởng không?

    Dưới sự sai bảo của chính những kẻ bị tố cáo, người ta đã ép Lê Anh Hùng phải vào bệnh viện khám và kết luận anh bị bệnh tâm thần, rồi bắt điều trị một thời gian, kể cả tiêm thuốc hòng làm hại anh. Tuy nhiên, những ai đã đọc qua Hồ Sơ của anh sẽ thấy: nếu đó là một người bị bệnh tâm thần hoặc hoang tưởng thì chính những căn bệnh đó đã biến Lê Anh Hùng thành một người giỏi giang hơn hầu hết mọi người chúng ta. Hồ Sơ của anh chứa đựng hàng trăm sự kiện, với hàng ngàn chi tiết được sắp xếp hợp lý, kèm theo chỉ dẫn về thời gian, địa điểm và những nhân vật tham gia hết sức cụ thể. Có thể nói, một nhà văn viết truyện hình sự bậc thầy trên thế giới cũng không thể hư cấu ra một hệ thống sự kiện phức tạp như vậy, đặc biệt khi nó liên quan đến những nhân vật mà cả nước ai cũng biết và được cả nước ngoài chú ý.

    Nếu hỏi tôi có muốn mắc chứng hoang tưởng hay bệnh tâm thần kiểu đó hay không, tôi xin trả lời: Rất muốn.

    Cũng nên nhớ rằng Lê Thị Phương Anh đã xác nhận chồng mình không hề bị bệnh tâm thần.

    2. Có phải Lê Anh Hùng cố tình bịa chuyện hay không?

    Để trả lời câu hỏi này, trước hết quý vị hãy tự hỏi: Liệu quý vị có sẵn lòng bịa ra và công bố một hồ sơ như thế hay không?

    Nếu đã không phải là bị bệnh tâm thần, hoặc bị tâm thần mà vẫn thông minh đến như thế, đồng thời không được chứng kiến tận mắt sự khốn kiếp của những kẻ đang nắm trong tay vận mệnh dân tộc, thì quý vị chắc chắn không bịa ra những chuyện như vậy làm gì.

    Người tung ra những chuyện như vậy chỉ có thể là người trực tiếp chứng kiến, và thấy đau đớn cho vận mệnh của cả một dân tộc. Người khác, dù có chứng kiến nhưng thiếu lương tri, sẽ không công bố, bởi không muốn hứng chịu bao nhiêu tai họa. Còn bịa ra và công bố để chơi thì đúng là chỉ có kẻ điên. Mà điên thì lại không sáng tác đến cỡ đó được!

    3. Chúng ta có thể kiểm tra độ xác thực của những sự kiện mà Lê Anh Hùng đề cập đến trong Hồ Sơ hay không?

    Nếu quý vị chịu khó theo dõi thời sự nước nhà, dù chỉ qua truyền thông lề phải thôi, quý vị sẽ thấy có những sự kiện lạ đời đến mức không thể tìm được cách giải thích nào, nếu không tin vào những chuyện của Lê Anh Hùng. Chẳng hạn, về cái kết quả quái đản của hội nghị TW-6 của tập đoàn lưu manh tự xưng ĐCSVN, quý vị có thể giải thích cách gì, nếu không thừa nhận rằng nội tình tập đoàn đó là những cuộc đấu đá, nhè miếng nhau và những thỏa thuận ngầm đê tiện như trong Hồ Sơ Lê Anh Hùng, kèm theo sự giật giây từ phía chính quyền Bắc Kinh?

    Bằng việc hàng ngày theo dõi từng động thái của các quan chức chóp bu ĐCSVN, chúng ta đều thấy rõ đó là một tập đoàn tàn phá đất nước. Tuy nhiên, có những sự kiện mà chúng ta không tìm được đáp án duy nhất để giải thích, do nội tình ĐCSVN bị bưng bít. Trong bối cảnh đó, Hồ Sơ Lê Anh Hùng đã xé toang bức màn đen, cho chúng ta thấy những trò bỉ ổi đê tiện của một trong những tập đoàn cầm quyền thối tha nhất trong lịch sử nhân loại.

    Nếu quý vị cho rằng trong những điều Lê Anh Hùng kể chỉ có một phần là sự thật, thì tôi xin nói rằng ngay cả như thế đi nữa thì chân dung bọn cầm quyền cũng đã xấu xa bẩn thỉu lắm rồi.

    Vì vậy, HÃY ĐỌC HỒ SƠ LÊ ANH HÙNG, TRUYỀN BÁ HỒ SƠ LÊ ANH HÙNG, để mọi người ngày càng thấy rõ bộ mặt thật của giới cầm quyền Việt Nam.

    TẠ NHẤT LINH

    Bình luận bởi TẠ NHẤT LINH | Tháng Mười 27, 2012 | Phản hồi

  12. 1) Tăng quyền cho chủ tịch nước để làm gì?
    2) Chủ tịch nước chưa đủ quyền lực hay sao mà cần phải tăng quyền?
    3) Từ trước tới giờ sao chưa nghe nói gì về tăng quyền cho chu tịch nước nhưng sao nay lại tăng như vậy?
    4) Tăng quyền gì cho chủ tịch nước?
    Mọi người hãy suy nghĩ và cho tôi biết thắc mắc trên cho tôi với nhé.
    Xin cám ơn!

    Bình luận bởi Bi danh: Do Van Day | Tháng Mười Một 2, 2012 | Phản hồi

  13. BỌN PHẢN ĐỘNG TIÊN LÃNG SẮM DÂY THÒNG LỌNG CHO ĐẢNG CỘNG SẢN
    Không bao giờ bọn phản động nhan nhãn như thời Nguyễn Phú Trọng ( NPT) cầm quyền, kể ra bọn phản động này cũng gan góc không biết sợ là gì, như tôn chỉ của ông NPT trong nghị quyết TW6 hay trong những cuộc họp mật nắn gân nhau trong thâm cung của bộ chính trị, không lẻ ông NPT bất lực thật sao? Điển hình những việc ông nắn gân Quân đội về việc QĐ tuyệt đối trung thành với đảng, còn trong việc ông chửi bới nhóm 72 là suy thoái đạo đức và những phát biểu có vẽ bấn loạn của ông NPT trong thời gian qua, phải chăng ông phát biểu như vây là ông cũng cố được lòng dân? Ông sai hoàn toàn Ông càng nói nhiều bao nhiêu thì lòng dân càng khinh ông bấy nhiêu, ngay như trong hàng ngũ tướng tá Quân đội khi nói tới đảng thì sau lưng các tướng tá thường nói nhỏ với nhau những gì ông biết không? Họ thường nói là (cái đảng phù phiếm) tôi chắc rằng ông chưa nghe đâu vì lòng tin của Quân nhân không còn tin vào những giáo điều phù phiếm của đảng nữa. Cho nên bọn phản động ở Tiên Lãng nó cũng chẳng xem ông ra gì và những việc trên tôi sẽ chứng minh cho Ông NPT qua việc bọn phản động tiên lãng sẽ phản động như thế nào sau phiên xử gia đình Anh Đoàn Văn Vươn.
    Bọn phản động ở Tiên Lãng nó dựa vào thế lực nào mà nó dám khinh ông, trong khi đảng CS luôn là ánh dương soi đường, đảng là mùa xuân, đảng là cha là mẹ của nhân dân, đảng uy tín như vậy mà để bọn phản động Tiên Lãng nó ăn cướp của gia đình Anh Vươn từ con cá cho đến nhà cửa đất đai thậm chí nếu không có thông tin lề dân thì chúng nó giết anh vươn rồi cũng không chừng. Những chứng cứ rành rành là bọn phản động cầm quyền Tiên Lãng, Hải Phòng sai hoàn toàn mà nó có coi đảng lảnh đạo có ra gì không? Bọn nó dám cả gan sử dụng hệ thống luật pháp địa phương để ép gia đình Anh Vươn đến nỗi cùng cực trong khi Anh Vươn đáng lẽ phải nhận được huy chương lao động nữa là khác.
    Khi bọn phản động Tiên Lãng, Hải phòng nó ngang nhiên dùng luật rừng rú để ép gia đình Anh Vươn và xem hiến pháp do ĐCS soạn năm 1992 như là một văn bản phù phiếm làm trò cười cho thiên hạ vì nhiều luật trong bản hiến pháp đó mập mờ thiếu định lượng mạnh, chính vì những kẽ hở đó nó giúp cho cái đám phản động ở Tiên Lãng, Hải Phòng tự tung tự tại.
    Vụ án Anh Vươn hầu như toàn thể người dân đều biết và thông tin rất rỏ ràng từng chi tiết, cho nên người dân đang trong chờ một ngày xử án anh minh, người dân xem mức độ anh minh của đảng để đo lường chế độ này như thế nào? Và tôi cam chắc bọn phản động ở Tiên Lãng sẽ lợi dụng vào vụ này, một để giết gia đình Anh Vươn vì tức tối cho việc cướp không được tài sản của anh, hai là làm mất uy tín của đảng đồng thời sắm cho đảng sợi dây thừng có thòng lọng để tới ngày treo cổ cái đảng cs phù phiếm này thông qua việc xử án.
    Với hai tội mà bọn phản động ở Tiên Lãng, Hải Phòng ghép cho gia đình Anh Vươn chắc không dưới 20 năm tù trong khi theo luật thì các ông đã sai hoàn toàn nhưng Anh Vươn vẫn bị xử ép, cho nên niềm tin của nhân dân sẽ đỗ vỡ mạnh hơn bao giờ hết vì đây là tầng lớp nông dân cho nên mức độ quan tâm của tầng lớp nông dân rất cao, và cuối cùng nông dân sẽ là những người tiển đưa cái đảng cs phù phiếm này vào cỏi vĩnh hằng.
    Hưng Quốc Việt

    Bình luận bởi Hưng Quốc Việt | Tháng Ba 30, 2013 | Phản hồi

  14. nhân dân mình biết làm gì, hay chỉ biết đứng kiêu la, gì nhân dân ta không có vũ khí thì làm được gì ngoài những cụt đất có sẩn, các bạn thử nghĩ sem nếu nhân dân chúng ta lúc đó có một khẩn súng thì tình hình như thế nào.
    nhưng hiện nay không ích những người việt chỉ biết đứng nhình cuột thế chứ chẩn có một hành động cụ thể nào. thậm, chí có một số người cũng đã nản chí trong công cuột chống CS. mình thật sự buồn và cũng chẩn biết con cháu chúng ta sau này sẽ ra sau

    Bình luận bởi nguyễnthanh | Tháng Tư 3, 2013 | Phản hồi

  15. Lâu nay, chủ tịch nước là nhân vật bù nhìn chỉ lo việc tiếp khách, thăm viếng. Những việc còn lại là do hai tay Bí thư và Thủ tướng tóm vén hết. Nay hình như muồn Chủ tịch cùng chết chung khi “dân nỗi can qua” nên tăng chút quyền lực đấy mà.

    Bình luận bởi xa | Tháng Tư 8, 2013 | Phản hồi


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s