Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN – CẦN ĐẦU TƯ CẤP THIẾT CHO QUỐC HỘI

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức, theo Tia Sáng

15-01-2015

Nhà nước pháp quyền hay pháp trị là một khái niệm phổ quát, không mang tính cá biệt đối với bất kỳ thể chế hay mô hình nhà nước nào, nội hàm mang ít nhất 3 dấu hiệu: (1) có luật, (2) có toà án độc lập, (3) mục đích nhằm buộc nhà nước phải bảo đảm lợi ích quyền tự do cho từng cá nhân. Luật do quốc hội lập pháp làm ra, vì vậy đầu tư cho quốc hội đủ năng lực đảm đương là nền tảng tiên quyết, điều kiện cần của một nhà nước pháp quyền.

*Phần I Số lượng luật

Một khi luật là dấu hiệu của một nhà nước pháp quyền, và nếu thừa nhận xã hội vận động phát triển không ngừng, thì số lượng luật càng nhiều bao nhiêu, nền tảng pháp lý cho sự vận động đó càng vững chắc bấy nhiêu, nếu mọi yếu tố ảnh hưởng khác tương đương. Thống kê năm 2014, với 2 kỳ họp thứ 7 và 8, Quốc hội khoá XIII nước ta đã thông qua tổng số 29 luật, tăng hơn gấp đôi so với 17 luật năm trước đó, đánh dấu thành tích cố gắng vượt bậc của cơ quan lập pháp nước ta giữa 2 năm.

Tuy nhiên với câu hỏi, số lượng luật đó so với nhu cầu xã hội đòi hỏi đã đáp ứng ở mức độ nào? câu trả lời quả khó lượng hoá, nhưng có thể dùng phương pháp so sánh với các quốc gia khác để ước lượng chỗ đứng đó của nước ta trên thế giới. Chẳng hạn, lấy nước Đức tương đương dân số và diện tích so sánh; trong 4 năm nhiệm kỳ trước, 2009-2013, họ thông qua tới 553 luật, bình quân mỗi năm 138 luật gấp nước ta tới 475%. Cuối năm 2014 chưa có số liệu cơ quan thống kê, nhưng chỉ riêng tháng 12 quốc hội họ thông qua 37 luật, đã nhiều gấp 127% cả năm của nước ta. Dĩ nhiên so sánh trên còn phải xét đến ảnh hưởng đặc thù của 2 nước; Đức trình độ phát triển thuộc hàng đầu thế giới đòi hỏi luật cũng ở cấp độ đó; nước ta đang ở giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế từ quản lý tập trung sang thị trường nhu cầu luật cũng buộc tăng đột biến. Nếu coi mức độ tác động 2 yếu tố đó tương đương, và lấy Đức làm chuẩn phấn đấu, thì tỷ lệ so sánh trên đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nước ta cần nhanh chóng ban hành số lượng luật gấp hơn 4 lần hiện nay!

*Phần II Chất lượng văn bản luật

Theo mục đích (3), chất lượng văn bản luật được thể hiện ở mức độ quyền, lợi ích và số người cùng được thụ hưởng từ luật đó. Chất lượng có thể dương, mang lại lợi ích cho từng con người, nhưng cũng có thể âm tước đi của họ, điển hình như Sắc lệnh Tổng thống Đức ký do nội các Hitler soạn thảo, được quốc hội thông qua, mang danh cực kỳ tốt đẹp “Bảo vệ nhân dân và nhà nước“ hiệu lực từ ngày 28.2.1933, nhưng kết qủa có chất lượng âm cực tiểu so với mọi luật trên thế giới xưa nay. Bởi số người thụ hưởng lớn cả nước Đức và ở bất kỳ quốc gia nào do Đức chiếm đóng. Về mức độ lợi ích bị tước bỏ hầu hết mọi quyền cơ bản của con người đã được hiến định trước đó, từ cấm tự do cá nhân, báo chí, lập hội, biểu tình, bí mật thư tín điện thoại… đến hạn chế quyền sở hữu, bắt bớ tùy tiện, tiêu diệt đảng Cộng sản rồi lần lượt tới mọi đảng đối lập khác, mở đường đưa Hitler trở thành nhà độc tài, gây thảm hoạ thế chiến thứ 2, phạm tội diệt chủng, chống lại loài người, với thiệt hại hơn 65 triệu nhân mạng trên thế giới.

Sử dụng dấu hiệu (3) để đo lường, thì số lượng luật Quốc hội Đức thông qua năm 2014 nói trên đã mang đến cho 80,8 triệu dân số Đức, bất cứ ai, kể cả người nước ngoài sống ở Đức, tính từ năm 2015 có những quyền và lợi ích trực tiếp nổi bật, bằng những quy phạm pháp lý sau (chưa tính kết qủa gián tiếp):

1- Quyền được hưởng lương tối thiểu bắt buộc. Từ năm 2015, nhà nước, doanh nghiệp, người thuê việc phải trả lương tối thiểu ít nhất 8,50 Euro một giờ. Lần đầu tiên, nhà nước Đức đã bảo đảm cơ sở pháp lý cho khoảng 3,7 triệu người lao động trong khu vực lương thấp hơn 8,50 Euro/giờ được hưởng lợi từ luật này. Luật cũng không đánh đồng, gây bất lợi cho những trường hợp đặc biệt, bằng cách ngoại trừ trẻ dưới tuổi vị thành niên, 6 tháng đầu đối với người thất nghiệp lâu dài ít nhất một năm, học sinh học nghề, thanh thiếu niên trẻ tuổi học nghề lần đầu, những người lao động thiện nguyện, những người không phải lao động hưởng lương, như giúp đỡ hàng xóm, đổi công…

2- Quyền được bảo đảm chắc chắn an sinh. Thay đổi mức đóng bảo hiểm xã hội, áp dụng cho tổng số 42,7 triệu lao động / 80,8 triệu dân số. Phí bảo hiểm y tế giảm 0,9% xuống còn 14,6% tính trên tổng lương. Người lao động và chủ lao động mỗi bên đóng một nửa. Bảo hiểm chăm sóc tăng 0,3% lên 2,35% để đáp ứng đủ nhu cầu chăm sóc cho người cần chăm sóc. Bảo hiểm hưu trí: Do qũy trả lương hưu trí nhà nước cuối năm 2014 còn dư 33,5 tỷ Euro đủ thanh toán lương hưu 1 tháng rưỡi, nên phí bảo hiểm hưu trí giảm 0,2% xuống còn 18,7%. Bảo hiểm thất nghiệp không thay đổi 3%.

3- Cải tiến thẻ khám chữa bệnh. Thay thế cạc cũ bằng cạc thẻ y tế điện tử mới có tác dụng lưu giữ dữ liệu bệnh tật phục vụ cho bác sĩ, bệnh viện và hiệu thuốc chữa trị cho bệnh nhân, áp dụng cho trên 80 triệu dân số Đức.

4- Tiêu chuẩn được chăm sóc tốt hơn. Áp dụng cho chừng 2,5 triệu người cần chăm sóc (bệnh già cả, kinh niên, di chứng tai nạn, thiểu năng). Thời gian nghỉ việc chăm sóc người thân tại nhà tăng lên 2 năm. Tiêu chuẩn trợ cấp hàng tháng cho người cần chăm sóc tại gia đối với bậc 0 năm 2014 là 120 Euro, năm 2015 tăng lên 123 Euro. Tương tự bậc 1 từ 235 tăng lên 244; bậc 2, từ 440 lên 458; bậc 3 từ 700 lên 728. Tiêu chuẩn chăm sóc nội trú, bậc 1 từ 1023 lên 1064, bậc 2 từ 1278 lên 1330, bậc 3 từ 1550 lên 1612.

5- Cải cách tiêu chuẩn dành cho cha mẹ sinhcon. Tiền trợ cấp cho cha mẹ sinh con, áp dụng cho bất kỳ trẻ sơ sinh nào kể cả người nước ngoài sống ở Đức (chừng 700.000). Năm trước được hưởng 67% lương, thấp nhất 300 Euro/tháng, tối đa 1800 Euro/tháng trong thời gian nghỉ việc 14 tháng. Từ năm nay tiêu chuẩn giảm xuống 1 nửa nhưng thời gian hưởng kéo dài lên 28 tháng, để tăng thời gian làm thêm không bị khấu trừ vào trợ cấp.

6- Bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi người theo lạm phát. Tiền trợ cấp xã hội tiếng Đức gọi là Hartz IV cấp hàng tháng cho người còn sức lao động nhưng thất nghiệp lâu dài bất kể đó là ai (kể cả người nước ngoài sống ở Đức) được nâng lên tương ứng với tốc độ trượt giá. Số lượng người hưởng Hartz đầu năm 2015 khoảng 4.400.000 người. Năm trước người độc thân được hưởng 391 Euro, từ năm nay tăng lên 399 Euro; vợ chồng và người trên 25 tuổi sống cùng, từ 353 tăng lên 360; dưới 25 tuổi từ 313 lên 320; trẻ em từ 0 – 6 tuổi từ 229 lên 234; từ 6 đến dưới 14 tuổi từ 261 lên 267; từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi từ 296 lên 302.

Số tiền trên đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của một cuộc sống bình thường: từ chi thực phẩm, đồ uống không cồn (chiếm 35,5%), giao lưu thưởng thức văn hoá (11,04%), liên lạc truyền thông (8,83%), mua quần áo giày dép (8,40%), đồ đạc sinh hoạt (8,36%), trang bị nội thất (7,58%), hàng hoá khác (7,32%), đi lại (6,30%), dồ dùng phục vụ sức khoẻ (4,3%), ăn nhà hàng ngủ khách sạn (1,98%), đồ dùng học hành (0,38%). Ngoài ra được miễn phí bảo hiểm sức khoẻ, điện nước, nhà ở 50m2 cho ngườì độc thân (có người sống cùng cộng thêm 15 m2/người). Những trường hợp đặc biệt như 1 mình nuôi con trên 7 tuổi được cấp thêm ít nhất 12%, dưới 7 tuổi từ 36-60%; thai sản thêm 17% tính từ tuần 13 chưa kể tiêu chuẩn mua quần áo, trang bị cho trẻ sơ sinh; người thiểu năng hoặc bệnh kiêng khem được thêm tới 35% tùy mức độ. Các trường hợp phải chi đột xuất như tang lễ, kết hôn, nhận nơi ở mới, thiệt hại bất ngờ được trợ cấp 1 lần khoản đó.

7- Bảo đảm mức lương tối thiểu cao cho ngành chăm sóc điều dưỡng. Được áp dụng cho khoảng 780.000 lao động toàn Liên bang. Từ năm 2015 tăng lên 9,40 Euro/giờ tại Tây Đức và 8,65 Euro tại Đông Đức; đến 2017, tiếp tục tăng tương ứng lên 10,20 và 9,50.

8- Lò sưởi phải bảo đảm môi trường. Từ năm nay lò hơi, dầu và gas xây dựng trước 1985 không được sử dụng nữa, do vượt quá ngưỡng tối đa 30 năm.

9- Rác thải sinh học. Toàn liên bang phải phân loại rác thải đó. Hiện tại đã có 340 trong số khoảng 400 thành phố và khu vực trang bị thùng dành riêng cho rác thải sinh học.

10- Quyền và trách nhiệm đăng ký chỗ ở mới. Cơ quan đăng kí chỉ được cung cấp thông tin và địa chỉ người dân cho mục đích quảng cáo khi được người đó đồng ý. Áp dụng luật đăng kí hộ khẩu mới nhằm cản trở tội phạm hình sự giấu nơi ở, và tránh đăng kí giả. Chủ cho thuê có thời hạn 2 tuần kể từ ngày người thuê dọn vào hay ra để cấp giấy chứng nhận chuyển nhà. Với giấy này, người thuê có thể đăng kí tạm trú hay chuyển nơi ở.

11- Dịch vụ phục hồi sức khỏe được nhà nước hỗ trợ hơn trước. Các cơ sở phục hồi sức khoẻ ngoại trú được miễn thuế môn bài và được đặt ngang với các cơ sở nội trú, nhằm đẩy mạnh nguyên tắc „ngoại trú trước nội trú“.

12- Hỗ trợ thêm chăm sóc tuổi già. Khoản tiền đóng bảo hiểm phục vụ cho chăm sóc tuổi già, phần được khấu trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thu nhập được tăng 2% lên 80%.

13- Cải cách lương hưu. Những người về hưu từ năm 2015 được hưởng khoản lương hưu không phải đóng thuế thấp hơn trước kia, bằng 30% lương hưu, ở mức 14.000 Euro/năm. Trước khi tính thuế, lương hưu còn được khấu trừ các khoản phí bảo hiểm.

14- Cải cách thuế nhà thờ đối với tiền lãi ngân hàng. Các ngân hàng, qũy tiết kiệm, các hãng bảo hiểm có trách nhiệm trừ trực tiếp thuế nhà thờ đối với lãi tiền gửi.

15- Cải cách thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ qua Internet. Những người bán sách trực tuyến, hay các dịch vụ viễn thông, hoặc trên Internet của doanh nghiệp nước ngoài trong khối EU, phải đóng thuế giá trị gia tăng cho nước của người mua, chứ không phải nước của người bán nữa.

  1. Quy định kinh doanh tắm hơi. Mức thuế giá trị gia tăng ưu đãi 7% dành cho các dịch vụ tắm hơi sẽ kết thúc vào ngày 1.7.2015. Cho đến nay, dịch vụ đó được xem như chữa bệnh nên được hưởng mức thuế thấp.

17- Trốn thuế / tự thú: Những người trốn thuế sẽ khó khăn hơn để thoát tội khi tự thú, chỉ được miễn phạt hình sự, khi trốn thuế đến ngưỡng 25.000 Euro. Đối với khoản tiền nhiều hơn chỉ được miễn phạt hình sự khi đóng một khoản tiền phụ thu. Trốn thuế trên 25.000 Euro phụ thu 10%. Trốn thuế từ 100.000 Euro 15%. Trên một triệu Euro phụ thu 20%.

18- Liên hoan doanh nghiệp. Chi phí cho bữa tiệc được coi là chi phí doanh nghiệp khấu trừ vào lãi ở mức 110 Euro / 1 người như trước đây. Nếu vượt quá ngưỡng trên, trước đây toàn bộ chi phí không còn được coi là chi phí doanh nghiệp, nay chỉ áp dụng đối với phần chi phí quá ngưỡng đó.

19- Những quy định pháp lý mới về ô tô cá nhân. Thống kê gần nhất, vào tháng 1.2014 có tới 43,9 triệu xe con lưu thông trên toàn nước Đức; chia cho dân số, bình quân 2 nhân khẩu có 1 chiếc. Bước sang tháng 1.2015, chủ xe có thể cắt đăng kí qua mạng Internet, bằng cách sử dụng mã số QR-Code in chìm trong giấy tờ xe và biển số. Từ 1.10.2015, xe mới phải có hệ thống báo động khẩn cấp tự động (E-Call) cho lực lượng cấp cứu biết địa điểm khi bị tai nạn.

20- Quy định mới về phí môi giới nhà cửa. Trước đây, mặc dù chủ cho thuê nhà thuê nhân viên môi giới, nhưng người thuê vẫn phải trả phí, tương đương khoảng 2 tháng tiền nhà cộng thuế giá trị gia tăng. Từ năm nay, người cho thuê phải tự trả chi phí môi giới.

Cùng thời gian thông quan văn bản luật trên, ở ta, trong tổng số 29 luật Quốc hội ban hành năm 2014 được Chủ tịch nước công bố, đã mất 8 luật điều chỉnh mối quan hệ công quyền, bộ máy nhà nước chỉ mang lại lợi ích gián tiếp cho người dân, gồm: Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Việt Nam; Tòa án nhân; Quốc hội (hiệu lực từ ngày 01/01/2016); Công an nhân dân (hiệu lực từ ngày 01/7/2015); Sĩ quan Quân đội nhân dân(sửa đổi), hiệu lực từ ngày 01/7/2015; Hải quan (sửa đổi); Xây dựng (sửa đổi); Đầu tư công. Có 5 luật liên quan tới ngành nghề kinh tế, tức nửa gián tiếp nửa trực tiếp đối với lợi ích người dân, gồm: Luật Công chứng (sửa đổi); Hàng không dân dụng (sửa đổi), hiệu lực từ ngày 01/7/2015; Kinh doanh bất động sản (sửa đổi); Phá sản (sửa đổi); Giao thông đường thủy nội địa (sửa đổi); Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Có 6 luật liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích người dân như của Đức, gồm: Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi); Căn cước công dân (hiệu lực từ ngày 01/1/2016); Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), hiệu lực từ ngày 01/1/2016; Nhà ở (sửa đổi); Hôn nhân và gia đình (sửa đổi); Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài. Trong đó có 2 luật tới năm 2016 mới có hiệu lực. Tức bước sang năm 2015, người dân chỉ được thụ hưởng mỗi 4 luật (tỷ lệ thấp nhất trong tổng số luật công bố).

C- Kết qủa phân tích định lượng thực tế 2 nước trên cho thấy chất lượng văn bản lập pháp ở ta chỉ bằng 4/20 tức 20% Đức, với giả định các quy phạm chứa đựng trong các luật đó mang lại quyền, lợi ích trực tiếp cho người dân 2 bên tương đương nhau.

*Phần III Thực thi và áp dụng luật

Theo dấu hiệu (2), văn bản lập pháp Đức có giá trị: (a) thi hành trực tiếp; (b) đúng ngày có hiệu lực, nếu không sẽ bị toà án chế tài khi được bên thiệt hại viện tới. Nghĩa là đúng không giờ ngày đó, người đứng đầu những cơ quan chịu trách nhiệm thi hành phải thực hiện, không cần xin chỉ thị, ý kiến hay văn bản lập quy bất cứ cấp nào, nếu văn bản lập pháp không đòi hỏi. Nếu chậm thi hành hoặc thi hành sai, người dân có quyền khiếu nại; không được họ sẽ kiện ra toà. Chỉ riêng trợ cấp xã hội Hartz IV, thống kê năm gần nhất 2013 có tới 193.966 đơn kiện mới. Số đơn chống lại hình phạt bị cắt giảm tiêu chuẩn do bị cáo buộc vi phạm quy chế xin cấp trợ cấp tới 61.498 vụ. Sau khi khiếu nại, 22.414 người được giải quyết chiếm 36%. 6.367 người trong số còn lại kiện tiếp ra toà có 2.708 người thắng, chiếm tới 42,5%. Nghĩa là cứ 100 vụ khiếu nại, kiện cáo, có ít nhất 78 người thắng nhà nước, đúng với bản chất nhà nước pháp quyền là công bộc của dân, không được phép và không thể bất chấp lợi ích họ.

Các quy phạm trên, cơ quan hành xử nào sai phạm gây thiệt hại cho nhà nước hay các bên liên quan, người đại diện pháp nhân cơ quan đó sẽ bị chế tài; miễn lấy chỉ thị, ý kiến của bất cứ ai cơ quan tổ chức nào để đổ trách nhiệm cho họ vốn không nằm trong quy phạm pháp lý đó. Hiện ở Đức, 1 cựu trưởng phòng, 1 cựu giám đốc, 1 cựu phó giám đốc Sở tư pháp thành phố Leipzig đang bị truy tố trước toà, phải đối mặt với mức án 14 tháng tới 2 năm tù kèm phạt tiền từ 5.000 – 10.000 Euro do Viện công tố đề nghị, với cáo buộc thực hiện sai “Luật bán nhà vô chủ“, với 411 trường hợp không truy gốc chủ nhà trước khi quyết định cho bán như luật đòi hỏi, mặc dù không hề tham ô hay vụ lợi, và cũng đã xin ý kiến nhiều ban ngành liên quan (ở họ công đoạn xin ý kiến chỉ tham khảo chứ không phải mệnh lệnh). Tương tự, các bên tham gia vào mối quan hệ pháp lý do luật điều chỉnh cũng đều bị chế tài, như Luật đăng kí chỗ ở quy định, cấm cấp hợp đồng giả cho người không sống trong căn hộ; vi phạm có thể bị phạt tiền đến 50.000 Euro. Nếu chủ cho thuê không thực hiện các quy định trên dẫn tới giấy đăng ký hộ khẩu cấp muộn, sẽ bị phạt tiền đến 1000 Euro. Hay Luật lương tối thiểu quy định chủ lao động vi phạm có thể bị phạt tới 500.000 Euro. Hoặc Luật giao thông đường bộ, nếu áo cứu sinh và hộp cứu thương thiếu hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn, sẽ bị phạt tiền.

Trong khi đó, ở ta 4 văn bản lập pháp mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân lại phải qua quy trình: (1) gián tiếp qua văn bản lập quy. (2) Dù không được thi hành đúng ngày có hiệu lực cũng chẳng cơ quan công quyền nào bị chế tài cả, mặc nhiên đã coi luật là công cụ để chế tài chỉ dân chứ không phải nhà nước; trong khi nhà nước pháp quyền “chỉ được làm những gì luật cho phép“. Do quy trình trên, bình quân một luật có 6-7 văn bản hướng dẫn mới thực hiện được (theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân). Thấp nhất vào năm 2001 cũng thiếu tới 60 văn bản hướng dẫn, cao nhất năm 2006 tới 165 văn bản (theo Chủ nhiệm ỦB PL Phan Trung Lý). Năm 2014, có 55,6% các luật, pháp lệnh đã có hiệu lực nhưng thiếu văn bản dưới luật triển khai, tức chỉ 44% luật có hiệu lực đúng ngày (theo báo cáo Chính phủ). Có những luật ban hành chờ tới được thời điểm có hiệu lực thì đã phải sửa đổi (theo Chủ nhiệm ỦB Dân tộc Ksor Phước). Hệ lụy tới tháng 12.2014 còn nợ 20 văn bản tồn đọng cùng 91 văn bản thi hành 12 luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2015, cộng thêm 18 luật được thông qua tại kỳ họp thứ 8 cần văn bản thi hành, nguy cơ số lượng văn bản nợ sẽ tăng đột biến trong tháng đầu năm 2015. Vậy là ngay chính nhà nước đã vi phạm luật, gây thiệt hại cho người dân không được thụ hưởng quyền lợi ích do luật đem lại khi nó đã có hiệu lực.

Nguyên nhân được nhiều đại biểu quốc hội và các cấp soạn thảo văn bản dưới luật đưa ra là do mâu thuẫn: (1) số lượng văn bản hướng dẫn quá lớn, nhiều nội dung khó quy định chi tiết, phức tạp cần thời gian, nghiên cứu, khảo sát thực tiễn; (2) trong khi nguồn nhân lực hạn chế.

*Phần IV Cần cấp thiết đầu tư nâng cao năng lực quốc hội

Đó là con đường duy nhất giải quyết mâu thuẫn trên. Quốc hội Đức là một thực tế. Nhiệm kỳ 4 năm trước có 622 nghị sỹ, tất cả đều chuyên trách, thực hiện tổng cộng 253 phiên họp toàn thể, bình quân mỗi tuần họp 1 phiên, để thông qua 553 luật. Để thông qua được, họ phải chất vấn chính phủ tổng cộng 19.373 lần bằng giấy, 6.057 lần trên nghị trường, và 107 lần chất vấn khẩn cấp, tổng cộng 25.537 lần. Bởi Chính phủ đã soạn tới 434 dự thảo chiếm 78% tổng số luật đúng với chức năng hành pháp.

Nghị sỹ họ bị hiến pháp và luật chế tài phải hoàn toàn độc lập, không được phép xin ý kiến hay chỉ thị bất kỳ của ai, cấp nào, đảng phái gì, nghĩa là tự thân vận động, trong khi đó năng lực cá nhân nào cũng có giới hạn và ai cũng phải mưu sinh. Vì vậy để 622 nghị sỹ toàn tâm toàn ý cho công việc như một nghề nghiệp phải tinh thông, đủ năng lực đảm đương, nhà nước phải đầu tư cho họ:

(1)- Điều kiện riêng cho từng nghị sỹ: – Lương chính do Hiến pháp và Luật nghị sỹ ấn định bằng lương của Chánh án Toà án Liên bang, và điều chỉnh theo chỉ số biến động chi phí cuộc sống, từ ngày 1.1.2015 là 9082 Euro/tháng so với năm trước đó 8.667 Euro. – Văn phòng riêng, với đầy đủ dụng cụ trang thiết bị, chi phí hàng tháng 4.204 Euro. – Nhân viên, họ có quyền thuê trong phạm vi qũy lương khoán tới 15.053 Euro/tháng, đủ trả lương cho từ 3-5 chuyên viên lành nghề. Tính ra tổng số nhân lực lao động chuyên trách công việc nghị sỹ, nhiệm kỳ trước lên tới 622 nghị sỹ + 4 (3-5 chuyên viên) x 622 = 3.110 người.

(2)- Cấp kinh phí cho Quốc hội. Năm 2014 tới 726 triệu Euro / 296,5 tỷ chi ngân sách quốc gia, chiếm 0,25%. (3)- Bộ máy hành chính quốc hội: Tới 2.600 nhân viên, chia thành 4 bộ phận, gồm: – Bộ phận giúp việc cho các hoạt động của quốc hội và nghị sỹ; – Bộ phận khoa học và quan hệ đối ngoại có chức năng khảo cứu, giám định, cung cấp thông tin dữ liệu khoa học khi nghị sỹ hay quốc hội yêu cầu; – Bộ phận thư viện, có chức năng cung cấp mọi văn bản nhà nước từ xưa tới nay, cùng tài liệu sách, báo với trên 1,2 triệu đầu sách; – Bộ phận quản trị tổng hợp, cung cấp nhân lực cơ sở vật chất, tài chính cho mọi hoạt động của quốc hội.

So với tỷ lệ ở họ, quốc hội ta được đầu tư quá thấp:

(1)- Theo Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, Đại biểu Quốc hội không quá 500 người. Với tỷ lệ ít nhất 35%, Đại biểu chuyên trách chỉ còn 175 người đúng với khái niệm nghị sỹ phổ quát trên thế giới, tương đương 28% Đức. Nếu ở ta tính thêm cả nghị sỹ bán chuyên trách và ở Đức tính cả 4 nhân lực hỗ trợ 1 nghị sỹ, thì tỷ lệ trên giảm xuống chỉ còn 16%. (Chưa nói như nhiệm kỳ này, Đại biểu chuyên trách ở điạ phương chiếm 40% – về điạ lý tương tự Thượng viện Đức – Trung ương chỉ còn 60%; tỷ lệ 16% trên giảm xuống còn 9,6%). Nếu lấy nhu cầu luật ở ta do quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế và thiết chế nhà nước đòi hỏi lớn như Đức, thì quốc hội ta cần đầu tư thêm ít nhất 84% nhân lực !

(2) Tiền lương Đại biểu Quốc hội ở ta mặc nhiên chưá đựng phân biệt, trong khi thế giới coi mọi nghị sỹ như nhau, bởi lá phiếu sản phẩm cuối cùng của họ không khác nhau. Ở ta đại biểu chuyên trách TƯ hưởng mức lương cấp thứ trưởng, có nhà ở công vụ, trong khi ở điạ phương thì chỉ ngang lương phó Chủ tịch HĐND, và đều tùy thuộc ngạch, bậc, thâm niên công tác. Các khoản phụ cấp khác, theo Nghị quyết UBTVQH số 1157/NQ-UBTVQH11 ngày 10/07/2007 gồm: hoạt động phí bằng 1,0 lương tối thiểu tức 650.000 đ/tháng (từ năm 2009); phụ cấp họp 2 kỳ 450.000 đ/kỳ; nghiên cứu tham gia ý kiến luật chỉ 300.000đ/1 dự án. Tính theo tỷ lệ trên lương chính thấp rất xa so với Đức, không thể thuê nổi 1 nhân lực trình độ cao hỗ trợ, tự mình đảm đương từ A-Z, trong khi ai cũng phải đại diện cho 90 triệu dân.

(3) Bộ máy, nhân lực, tài chính, phục vụ cho quốc hội, hiện không có dữ liệu trên thông tin đại chúng nên không thể đánh giá như ở Đức.

Những phát ngôn gây sốc trên nghị trường, từ lấy tỷ giá rau muống giữa Trung Quốc và Việt Nam để bác bỏ chỉ số lạm phát ở ta vốn là tỷ lệ giá cả “rổ hàng tiêu dùng“ so với kỳ, năm trước, hay miệt thị biểu tình vốn được thế giới trân trọng kỷ niệm như ngày quốc tế phụ nữ hay quốc tế lao động là một sự „ô danh“, là những dẫn chứng cho thấy ở ta thiếu bộ máy cung cấp họ đầy đủ thông tin như ở Đức làm tiền đề. Tuy nhiên cũng có thể do chính chất lượng nghị sỹ.

*Phần V: Nghị sỹ là ai?

Nghị sỹ ở Đức không phải chọn người bằng cấp học hàm học vị cao nhất hay tài tử trong thể thao nghệ thuật, đại văn hào trong văn học, tỷ phú trong kinh tế, các anh hùng, nhà vô địch… mà đơn giản là những chính khách, nghĩa là hoạt động trong lòng dân, thấu hiểu được khát vọng, nhu cầu, đòi hỏi của người dân đặt ra cho nhà nước, được họ tín nhiệm, bất kể họ là ai. Như nhiệm kỳ hiện tại, trong tổng số 631 nghị sỹ có: (1) Ngạch công chức gồm 32 công chức hành chính, 5 công chức tư pháp, 6 cảnh sát, 2 quân nhân, 26 lãnh đạo chính quyền điạ phương, 12 giáo viên đại học, 28 giáo viên phổ thông; (2) ngạch nhân viên gồm 40 nhân viên hành chính, 27 nhân viên văn phòng nghị sỹ, 27 trong nghiên cứu khoa học, 6 ngành y, 42 chuyên trách đảng phái, 25 thuộc công đoàn, hiệp hội lao động, 47 trong ngành công nghiệp, kinh doanh, thương mại thủ công, 2 trong ngành nông lâm nghiệp, 11 ngân hàng, tài chính, 3 bảo hiểm, 14 truyền thông; (3) ngạch doanh nghiệp có 25 chủ doanh nghiệp trong ngành công nghiêp, kinh doanh, thương mại, thủ công, 12 trong nông lâm nghiệp, 1 hãng bảo hiểm, 3 truyền thông; (4) ngạch tự hành nghề, gồm 95 luật sư, tư vấn kinh tế, 3 nghề dược, 11 nghề văn hoá, truyền thông, 3 kỹ thuật tự do; (5) các ngạch khác có 3 nội trợ, 1 thất nghiệp, 9 học sinh sinh viên.

Khi bầu, người dân căn cứ không phải vào nghề của họ mà những gì họ đã thể hiện trong các hoạt động đảng phái, xã hội chiếm được sự tín nhiệm của người dân. Vì thế, nếu so sánh thành phần quốc hội Đức giữa các nhiệm kỳ sẽ cho kết quả tỷ lệ rất khác xa nhau. Tuy nhiên vẫn có những dấu hiệu theo quy luật, như thành phần luật sư tăng liên tục từ năm 1961 với 33 nghị sỹ đến nhiệm kỳ này lên gấp 3 tới 95 chiếm 15% quốc hội, bởi xã hội pháp quyền không thể thiếu vai trò chuyên môn về luật pháp của luật sư ngày càng ăn sâu vào mọi ngõ ngách đời sống của dân chúng. Trong khi đó, doanh nhân luôn giảm, cùng thời gian trên từ 153 xuống 41, bởi họ buộc phải tập trung ngày càng cao cho doanh nghiệp họ do phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi, khó dành được đầy đủ thời gian cho chức năng nghị sỹ.

Liệu những nhân sự ứng cử quốc hội nước ta trong tương lai có đạt được cấp độ tín nhiệm như họ, dù nghề nghiệp họ chỉ đơn giản nội trợ, thậm chí thất nghiệp, hoặc chưa nghề nghiệp như học sinh cũng đủ thể hiện mình để người dân sẵn sàng gửi gắm họ niềm tin nơi lá phiếu? Để thể hiện được như vậy, nhất thiết phải tạo dựng được tiền đề chủ trương chính sách đột phá cho nó !

_______

Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

Tháng Một 17, 2015 - Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | ,

Chưa có phản hồi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s