Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

VIỆT NAM PHẢI LÀM GÌ SAU HAI CUỘC HỘI ĐÀM THƯỢNG ĐỈNH?

Lê Xuân Khoa, theo BVN

Việt-Trung và Việt-Mỹ (Kỳ 1) 

Hai chuyến công du Bắc Kinh và Washington của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang liên tiếp trong tháng Sáu và tháng Bảy vừa qua đã được nhiều quan sát viên Việt Nam và quốc tế phân tích và bình luận. Bài này sẽ góp thêm một số suy nghĩ về kết quả của hai chuyến đi ấy, không chỉ căn cứ vào những ngôn từ công khai trong hai bản Tuyên bố Chung mà còn qua những hàm ý ở giữa những dòng chữ hay đàng sau những lời phát biểu chính thức. Việc so sánh nội hàm của các văn kiện và lời phát biểu sẽ cho thấy rõ hơn mục đích và chủ trương của mỗi bên, để từ đó có thể nhận định về tương lai của Việt Nam trong quan hệ ba chiều Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Từ những nhận định này, chúng ta sẽ thấy được những gì mà Việt Nam cần phải làm sau hai cuộc họp thượng đỉnh Việt-Trung và Việt-Mỹ.

Một cách tổng quát, bản Tuyên bố chung (TBC) Việt Nam-Trung Quốc xác lập quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai quốc gia, trong khi bản TBC Việt Nam-Hoa Kỳ chỉ nói đến quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Thông thường thì giữa các đối tác (partners) đều có sự hợp tác (cooperation), nhưng có những trường hợp quan hệ đối tác mới chỉ ở mức độ tham khảo, thảo luận, chưa tiến đến quan hệ hơp tác cụ thể. Như vậy quan hệ đối tác toàn diện chỉ bao gồm hợp tác cụ thể (thường chưa đầy đủ) trên một số lãnh vực mà thôi. Hợp tác chiến lược toàn diện thì có ý nghĩa toàn bộ bao gồm hoạch định, thực hiện và cam kết cụ thể.

Như vậy, trong giai đoạn hiện thời, quan hệ Việt Nam-Trung Quốc sâu sắc và đầy đủ hơn quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Quan hệ ấy lợi hay hại cho Việt Nam là vấn đề cần phải xem xét kỹ.

QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC

Quan hệ bất bình đẳng và trói buộc

Trong quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung, vấn đề là ở chỗ mọi việc hoạch định và thực hiện, dù có tham khảo với nhau, rốt cuộc đều được quyết định một chiều từ phía Trung Quốc. Đó là thực tế phũ phàng mà tại hội nghị Đối thoại Shangri-La, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi là “những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.” Một dấu mốc lịch sử cần phải nhớ là hội nghị Thành Đô năm 1990. Khi đó, các lãnh đạo Việt Nam, hoảng hốt trước hiện tượng tan rã mau chóng của các nước cộng sản Đông Âu, đã kéo nhau sang gặp lãnh đạo Trung Quốc ở Thành Đô xin nối lại bang giao để có chỗ dựa vững chắc cho Đảng và chế độ. Một thoả hiệp bí mật có tên là “Kỷ yếu Hội nghị” đã được ký kết giữa hai bên. Cho đến nay, nôi dung thoả hiệp bí mật này vẫn được giấu kín. Chỉ biết rằng, trong một phiên họp kiểm điểm kết quả hội nghị Thành Đô, các lãnh đạo CSVN đều than thở là mắc lừa Trung Quốc. Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người không được dự hội nghị, đau đớn thốt lên “Một thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu.” Quả thật, kể từ 1990, Trung Quốc đã dùng quyền lực mềm từng bước lấn chiếm đất và biển của Việt Nam, lũng đoạn nền kinh tế và tiến hành kế hoạch đồng hoá dân tộc Việt.

Trong bài nhận định trước đây về cuộc hội đàm Tập Cận Bình-Trương Tấn Sang ở Bắc Kinh, tôi có đưa ra một giả định là trước tình hình khó khăn ở trong nước và xu hướng chung của quốc tế muốn kiềm chế tham vọng bành trướng của Trung Quốc, các lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có thể đã đạt đựợc đồng thuận về nhu cầu cân bằng chính sách đối ngoại, tức là bớt dựa vào Trung Quốc, gia tăng hợp tác với Hoa Kỳ và các nước Châu Á-Thái Bình Dương. Bài diễn văn Shangri-La của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo trước hướng đi mới ấy. Chuyến đi Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang cho thấy giả định này có thể được xác nhận là đúng. Trên cơ sở ấy, bản TBC Việt Nam-Trung Quốc cần được phân tích đầy đủ hơn.

Trung Quốc tất nhiên không hài lòng đối với bài phát biểu 31.5 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vì vậy đã lập tức “mời” Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Bắc Kinh ngày 19.6 để hội đàm thượng đỉnh song phương. Mục đích cuộc hội đàm này được Đại sứ Khổng Huyễn Hựu báo trước là “tăng cường tin cậy lẫn nhau về chính trị … thúc đẩy quan hệ Trung-Việt phát triển lên tầng cao mới.” Cuộc hội đàm này hoàn toàn do Bắc Kinh sắp đặt khiến Việt Nam phải xác nhận “tiếp tục kiên trì phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt” và ký 10 văn kiện hợp tác được đúc kết từ kết quả của những buổi làm việc từ trước giữa các cơ quan Đảng của hai bên. Tất cả 10 văn kiện này đều không được công bố, nhưng qua bản TBC, người ta thấy văn kiện số 1 là chủ yếu vì nó có tính tổng thể mang tên là “Chương trình hành động giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc về việc triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.” Chương trình hành động này là kết quả “khẩn trương bàn bạc”của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương trong lần họp thứ 6 tại Bắc Kinh ngày 11.5.2013.

Như vậy, văn kiện số 1 mang tính chủ đạo là văn kiện quan trọng nhất cần được phân tích kỹ để nhận ra những điểm lợi hại của nó đối với Việt Nam. Chín văn kiện còn lại là kết quả triển khai từng lãnh vực trong văn kiện chủ đạo để cho các bộ, ngành liên quan hợp tác thi hành. Vì các văn kiện vẫn còn giữ kín, ngưới ta có lý do để tin rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục “những hành động mang tính áp đặt và chính trị cường quyền” đối với Việt Nam. Điều này được thấy rõ qua những thông tin vắn tắt trong bản TBC về các lĩnh vực hợp tác.

Về văn kiện số 1, tức Chương trình hành động, cơ bản là triển khai quan hệ toàn diện Việt-Trung qua “cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai Ban Đối ngoại và Ban Tuyên giáo, Tuyên truyền của hai Đảng vận hành thuận lợi, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ Đảng và Nhà nước. Hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, cùng nhau tổ chức tốt Hội thảo lý luận hai Đảng lần thứ 9, tăng cường hơn nữa trao đổi kinh nghiệm về xây dựng Đảng và quản lý đất nước, thúc đẩy xây dựng Đảng và đất nước ở mỗi nước.” Như vậy Chương trình hành động này là kết quả hợp tác của các cơ quan Đảng của hai bên, ấn định chính sách của chinh phủ và phát triển sức mạnh của Đảng. Sự kiện này cho thấy mục đích của Tập Cận Bình trong cuộc hội đàm với Trương Tấn Sang là buộc Việt Nam phải sát cánh chặt chẽ hơn với Trung Quốc về các chính sách đối nội và đối ngoại do sự chỉ đạo chung của hai Đảng. Nói cách khác, Trung Quốc đã dùng Văn kiện số 1 để chặn đứng dự tính “thoát Trung” của Việt Nam, được lộ rõ trong bài diễn văn Shangri-La của Nguyễn Tấn Dũng.

Hợp tác hay Gài bẫy

Ngoài văn kiện chủ đạo số 1, chín văn kiện tiếp theo (vẫn theo TBC) có bề ngoài là khai triển sâu sắc hơn các lĩnh vực đang hợp tác. Tất cả những văn kiện này chứa đựng nhiều điểm bất lợi cho Việt Nam gồm một số điểm đáng nghi ngờ và một số rõ ràng là những cái bẫy rất nguy hiểm.

Văn kiện số 2 về hợp tác biên phòng. TBC cho biết: “Thoả thuận hợp tác biên phòng” đã được sửa đổi và ký kết trong chuyến thăm này, “làm sâu sắc thêm hợp tác biên phòng trên đất liền và trên biển.” Cần tìm hiểu kết quả Đối thoại chiến lươc quốc phòng mà TBC cũng cho biết là “đi sâu trao đổi kinh nghiệm công tác Đảng và chính trị trong quân đội, tăng cường đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ.” Điều này rất đáng quan tâm vì cán bộ và sĩ quan trẻ của Việt Nam có thể sẽ trở thành đồng hoá với cán bộ và sĩ quan Trung Quốc.

Văn kiện số 3 về việc thiết lập “đường dây nóng” để xử lý các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển. Điều này có thể coi là kết quả tích cực trong quan hệ hợp tác Việt-Trung, nhưng cần tìm hiểu đường dây nóng này có khả năng xử lý thoả đáng các vụ việc, hay chỉ được dùng để thông báo vụ việc mà kinh nghiệm đã qua cho thấy là Trung Quốc chỉ hứa hẹn điều tra các vụ tấn công ngư dân Việt Nam hay chối bỏ trách nhiệm.

Văn kiện số 4 là Hiệp định khung, theo đó Trung Quốc sẽ cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi cho Dự án hệ thống thông tin đường sắt trị giá 320 triệu Nhân dân tệ (20 triệu USD). Đây là điểm mập mờ trong TBC khi nói đến “thúc đẩy xây dựng các dự án đường bộ và đường sắt kết nối khu vực biên giới trên bộ hai nước như tuyến đường bộ cao tốc Lạng Sơn-Hà Nội.” Đường cao tốc này đã được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đồng ý tài trợ 900 triệu trên tổng số chí phí 1.400 triệu USD. TBC cũng không nói rõ là tuyến đường này được nối vào đường cao tốc Nam Ninh-Lạng Sơn tại biên giới. Tuyến đường bộ cao tốc nối liền Nam Ninh (Trung Quốc) với Hà Nội sẽ rất nguy hiểm cho Việt Nam nếu chiến tranh xảy ra giữa hai nước.

Văn kiện số 5 là Bản Ghi nhớ về việc thành lập Trung tâm văn hoá tại hai nước. Điểm này hiển nhiên chỉ có lợi cho Trung Quốc trong ý đồ đồng hoá dân tộc Việt. Cần xem xét “Kế hoạch hành động thực hiện Hiệp định Văn hoá Việt-Trung giai đoạn 2013-2015” và những nỗ lực tăng cường giao lưu văn hoá qua những hoạt động như Liên hoan Thanh niên Việt-Trung, Gặp gỡ Hữu nghị Thanh niên Việt-Trung, Diễn đàn Nhân dân Việt-Trung, v.v.

Văn kiện số 6 là Điều lệ công tác của Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền. Nội dung có thể chỉ là những thủ tục hành chánh thông thường, nhưng cũng vẫn cần tìm hiểu những chi tiết áp dụng cho phiá Việt Nam.

Văn kiện số 7 là thoả thuận về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu. Đây cũng là một lĩnh vực thông thường nhưng cần xem xét hiệu quả, vì Việt Nam nhập khẩu động thực vật từ Trung Quốc nhiều hơn là ngược lại.

Văn kiện số 8 là Kế hoạch hợp tác giữa các tổ chức hữu nghị chính thức của nhân dân hai nước giai đoạn 2013-2017. Cần tìm hiểu Kế hoạch hợp tác này.

Văn kiện số 9 là hiệp định vay cụ thể tín dụng người mua ưu đãi cho Dự án Nhà máy Đạm than Ninh Bình, trị giá 45 triệu USD. Nên nhớ là Dự án này có tổng mức đầu tư là 666 triệu USD và nhà thầu thực hiện dự án là Tổng công ty Tư vấn và Thầu khoán Hoàn cầu của Trung Quốc. Nhà máy được hoàn thành năm 2011, có khoảng 2.000 cán bộ kỹ thuật, công nhân Trung Quốc và trên 500 lao động Việt Nam. Như vậy thì chuyện “vay cụ thể tín dụng người mua ưu đãi” để Việt Nam mua dụng cụ, máy móc của Trung Quốc không hẳn là một hành động giúp đỡ.

Văn kiện số 10 là Thoả thuận sửa đổi về thăm dò dầu khí chung trong khu vực ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, mở rộng diện tích khu vực thoả thuận và kéo dải thời hạn thoả thuận. Vấn đề này cũng có thể bất lợi cho Việt Nam, nhưng xin dành sự phán xét cho các nhà chuyên môn có nhiều thông tin và hiểu biết đầy đủ hơn.

Ngoài những thông tin vắn tắt về 10 văn kiện đã ký, TBC còn đề cập một loạt lĩnh vực được “hai bên nhất trí” gồm: tăng cường điều phối chiến lược về phát triển kinh tế; hoàn thiện cơ chế hợp tác về nông nghiệp; làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác trong lĩnh vực khoa học công nghệ; tăng cường hợp tác mọi mặt giữa các tỉnh biên giới, đặc biệt làm dễ dàng việc qua lại tự do giữa đôi bên; gia tăng đàm phán về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy càm trên biển Việt-Trung. Ngoại trừ các lĩnh vực mang tính kỹ thuật, “ít nhạy cảm”, các lĩnh vực khác được “hai bên nhất trí” đều có lợi cho Trung Quốc. Ngoài ra, có ba vấn đề quan trọng trong TBC cần được chú ý:

  1. Tình hình Biển Đông: Theo TBC, “Hai bên nhất trí thực hiện toàn diện, có hiệu quả Tuyên bố về cách ứng xử (DOC) của các bên ở Biển Đông,” (tên gọi này chắc không được dùng trong bản TBC bằng Hoa văn.) Nhưng DOC chỉ là văn kiện mở đướng cho việc thiết lập bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Trung Quốc đã không chịu thảo luận với ASEAN về COC từ hơn mười năm qua. Sự kiện “hai bên nhất trí không nói đến COC” rõ ràng là một “hành động áp đặt” của Trung Quốc.

Đối với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, TBC chỉ gián tiếp ám chỉ khi ghi nhận “hai bên sẽ nghiêm túc thực hiện ‘Thoả  thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc’.” Thỏa thuận này ký tại Bắc Kinh ngày11/10/2011, trong đó hai bên cam kết giải quyết vấn đề trên biển “căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.” Cam kết này có thể được phía Việt Nam nhắc đến và Trung Quốc phải chấp thuận đưa vào TBC nhưng không chịu nói rõ việc tuân thủ luật pháp quốc tế.

  1. Vấn đề Đài Loan: “Việt Nam khẳng định kiên trì thực hiện chính sách một nước Trung Quốc, … kiên quyết phản đối hành động ‘chia rẽ Đài Loan độc lập’ dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan.” Thật là gượng ép khi lồng vấn đề Đài Loan vào quan hệ hợp tác Việt-Trung. Đã đành là Việt Nam vẫn tán thành chủ trương một nước Trung Quốc, nhưng từ 1990 đã có nhiều quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, lao động với Đài Loan, và nước này là một trong những nước đứng đầu về đầu tư ngoại quốc ở Việt Nam. Điều chắc chắn là quan hệ hợp tác Việt Nam-Đài Loan là quan hệ bình đẳng, không có vấn đề “chính trị cường quyền” như Trung Quốc. Khi đưa điều này vào TBC, Trung Quốc buộc Việt Nam xác nhận lập trường ủng hộ Trung Quốc, gây khó khăn cho sự phát triển hợp tác Hà Nội-Đài Bắc.
  2. Lập trường với ASEAN và Quốc tế: TBC xác nhận “Việt Nam và Trung Quốc có lập trường tương tự và gần nhau trong nhiều vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm. Hai bên nhất trí tăng cường điều phối và phối hợp tại các diễn đàn đa phương…”. Đây là thủ đoạn của Trung Quốc thúc ép Việt Nam “nhất trí” với lập trường của Trung Quốc đối với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các vấn đề quốc tế. Khi lên tiếng nhất trí với Trung Quốc trong TBC, Việt Nam bị mắc kẹt với lập trường của Bắc Kinh, rất khó xử trong các quyết định chung với ASEAN và trong việc phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ.

Một quyết định nửa vời

Qua việc phân tích Bản TBC Việt Nam-Trung Quốc và 10 Văn kiện ký kết được giới thiệu trong TBC, chúng ta đã thấy rõ dã tâm của lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam. Giữa hai nước đúng là có quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện, nhưng mọi quyết định chiến lược rốt cuộc đều do Bắc Kinh chủ động. Mục tiêu tối hậu của Trung Quốc là thôn tính Việt Nam, kiểm soát toàn thể Biển Đông và các quốc gia Đông Nam Á. Trong khi sử dụng sức mạnh mềm để thực hiện mục tiêu, Trung Quốc cần nắm chắc Việt Nam, chia rẽ khối ASEAN và ngăn chặn Hoa Kỳ trở lại châu Á trong tư thế cường quốc số một ở Thái Bình Dương.

Lãnh đạo Việt Nam thấy rõ mưu đồ đen tối của lãnh đạo Bắc Kinh nhưng cho đến nay vẫn dựa vào Trung Quốc để duy trì quyền lực và quyền lợi. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã cố gắng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ nhưng chỉ để trục lợi và che đậy sự lệ thuộc vào Bắc Kinh. Nhưng trước sự lộng hành quá đáng của Trung Quốc ở Biển Đông, Việt Nam không thể tiếp tục cam chịu sự khống chế của Trung Quốc trước sự quan sát của quốc tế khiến cho nhân dân trong nước ngày càng tức giận và Hoa Kỳ cũng không còn kiên nhẫn.

Trước tình thế ấy, Bộ Chính trị có vẻ đã thuyết phục được nhau và đạt được đồng thuận về cân bằng chính sách đối ngoại, bớt lệ thuộc Trung Quốc và hợp tác nhiều hơn với Hoa Kỳ. Nhưng về chính sách đối nội, lãnh đạo Đảng vẫn theo sát Trung Quốc, không chịu cải cách chính trị ngoài những khẩu hiệu tuyên truyền. Trong diễn văn Shangri-La, ông Nguyễn Tấn Dũng có nói đến trường hợp Myanmar như “một thí dụ sinh động … mở ra một tương lai tươi sáng không chỉ cho Myanmar mà cho cả khu vực của chúng ta” nhưng không hứa hẹn gì về trường hợp Việt Nam vì đó không phải là quyết định của Bộ Chính trị. Về cải thiện nhân quyền, có thể Nhà nước sẽ có một cử chỉ làm nhẹ bớt áp lực của Hoa Kỳ và quốc tế bằng cách trả tự do hay giảm án cho một số tù nhân lương tâm vào một thời điểm thích hợp. Không biết chuyện này có xảy ra hay không và nếu có thì bước kế tiếp cuả cải thiện nhân quyền sẽ là gì.

Mối quan tâm chung và sự nhất trí thật tình giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là giải quyết nạn tham nhũng đang đe dọa sự an toàn của hệ thống cai trị. Bởi vậy, tiếp theo cuộc hội đàm Tập Cận Bình-Trương Tấn Sang, cuộc Hội thảo Lý luận lần IX của hai đảng đã diễn ra trong ba ngày 27-29/7 tại Liêu Ninh, Trung Quốc. Chủ đề Hội thảo “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới: Kinh nghiệm Trung Quốc, Kinh nghiệm Việt Nam” gồm 4 chuyên đề là Xây dựng tác phong, Xây dựng chế độ, Giám sát, ràng buộc quyền lực, và Môi trường xã hội. Không rõ hai bên đã chia sẻ với nhau những kinh nghiệm cụ thể gì có khả năng giải quyết một “quốc nạn” đã được mô tả là vô phương cứu chữa. Quyết định ngày 06/8/2013 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lập bảy đoàn công tác, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng trầm trọng chắc là xuất phát từ kết quả của Hội thảo Lý luận lần IX này.

Như vậy, chuyến công du Trung Quốc của Chủ tịch Trương Tấn Sang hoàn toàn thất bại vì kết quả là Việt Nam đã bị ép phải nhất trí với Trung Quốc nhiều hơn. Cái mà Trung Quốc gọi là “đẩy quan hệ hợp tác lên một tầng cao mới” chỉ có nghĩa là “thắt chặt thêm một nấc vòng lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc.” Đó là lý do tại sao Chủ tịch Trương Tấn Sang lại phải vội vã công du Hoa Kỳ mong tạo được thế cân bằng về đối ngoại. Mục đích này có đạt được hay không và Việt Nam cần phải làm những gì sau hai chuyến công du Bắc Kinh và Washington của Chủ tịch Nước? Đó là những điểm sẽ được đề cập trong phần kế tiếp. 

***

Việt Nam phải làm gì sau hai cuộc hội đàm thượng đỉnh Việt-Trung và Việt-Mỹ (Kỳ 2)

Lê Xuân Khoa, theo BVN

QUAN HỆ VIỆT NAM-HOA KỲ

Chuyến công du Trung Quốc tháng Sáu 2013 của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang, do lời “mời” của Chủ tịch Tập Cận Bình đã rõ ràng là một chuyến đi bất đắc dĩ, với kết quả là Hà Nôi bị ép phải cam kết “nhất trí” với Bắc Kinh trên mọi lĩnh vực hợp tác, song phương và đa phương. Dù khác với chuyến “mật du” sang Thảnh Đô năm 1990 của các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng, nỗi đau “bị ép” của Bộ Chính trị Việt Nam ngày nay không khác gì nỗi đau “bị lừa” của Bộ Chính trị Việt Nam ngày trước. Bởi thế, Bộ Ngoại giao Việt Nam lại phải vội vã thu xếp chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang vào tháng Bảy để cùng với Tổng thống Obama bàn việc gia tăng quan hệ hợp tác giữa Washington và Hà Nội.

Khác với quan hệ Việt Nam-Trung Quốc là “hợp tác chiến lược toàn diện”, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ được xác lập là “đối tác toàn diện.” (đã được định nghiã rõ ở đầu phần 1). Đây là kết quả của một tiến trình hoà giải giữa hai kẻ cựu thù nay có một số mục tiêu chung về an ninh, hoà bình và phát triển, cần có sự hợp tác để đôi bên cùng có lợi. Do quá khứ chiến tranh và thể chế khác nhau, Việt Nam còn nhiều thành kiến và nghi ngờ sai lầm về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Ai cũng biết lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ là củng cố vai trò “cường quốc Thái Bình Dương” của mỉnh, vì vậy muốn có sự hợp tác của các nước ASEAN để cùng ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trung Quốc trong khu vực. Việt Nam, vì có một vị trí chiến lược quan trọng và một lịch sử lâu dài đánh bại mọi chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, nên Hoa Kỳ càng mong muốn thấy Việt Nam thoát ra khỏi vòng khống chế của Trung Quốc. Cũng vì hiểu được những nỗi khó khăn, tế nhị của Hà Nội trong quan hệ với Bắc Kinh từ 1990 nên Hoa Kỳ đã kiên nhẫn hợp tác và giúp đỡ Việt Nam một cách chừng mực trong suốt 18 năm qua.

Cũng trong quá trình 18 năm quan hệ hợp tác nhiều mặt với Hoa Kỳ, dù chưa mang tính chiến lược, lãnh đạo Việt Nam đã có thừa hiểu biết để so sánh Hoa Kỳ và Trung Quốc về mặt lợi ích cho đất nước. Tuy nhiên, dù đã có sự đồng thuận về chuyển hướng đối ngoại, lãnh đạo Đảng vẫn chưa sẵn sàng cải cách về chính trị. Chuyến đi Washington của Chủ tịch Trương Tấn Sang có mục đích chính là xác nhận với Hoa Kỳ về ý định “thoát Trung” của Việt Nam. Về cải cách chính trị, có lẽ ông Sang trong buổi thảo luận riêng với ông Obama đã có một món quà nhỏ về nhân quyền, sẽ công bố vào một ngày thuận tiện gần nhất (2/9/2013?). Ông Obama chắc cũng đã nêu lên trường hợp của blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đang tuyệt thực vì năm ngoái ông đã lên tiếng phản đối bản án 12 năm của toà án Việt Nam xử Điếu Cày, và có thể ông Sang cũng đã hứa là sẽ giải quyết vụ này. Với những “tiến bộ” ấy, Chủ tịch Sang hi vọng chính quyền Obama đủ thấy vừa lòng để phát triển quan hệ hợp tác toàn diện, nhất là hoàn tất đàm phán về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Dưới đây là sự phân tích bản TBC Việt- Mỹ và những nhận định về quan hệ đối tác và hợp tác giữa hai nước. Vì đây mới chỉ là thoả thuận về một khuôn khổ tổng thể nhằm tạo ra các cơ chế hợp tác quy mô và bền vững cho chín lĩnh vực, nên không có gì nhiều để phân tích và nhận xét. Ngoài ra, do tính chất sòng phẳng và minh bạch trong quan hệ đối tác Việt-Mỹ, TBC Việt-Mỹ không có những cam kết một chiều hay những cái bẫy như trong TBC Việt-Trung. Vì hai lý do này, khi phân tích TBC Việt-Mỹ, tôi sẽ đối chiếu với TBC Việt-Trung, để từ đó rút ra những nhận định và đề nghị về những điều Việt Nam cần phải làm để có thể bảo vệ độc lập và chủ quyền, xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh, dân chủ, văn minh.

Quan hệ bình đẳng và minh bạch

TBC Việt-Mỹ khẳng định quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước được thiết lập trên cơ sở “tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.” Có hai điều đặc biệt thuận lợi cho Việt Nam:

  • Điều quan trọng nhất đối với Việt Nam là được Hoa Kỳ nhìn nhận và tôn trọng thể chế chính trị của mình. Đây là lần đầu tiên điều này được Hoa Kỳ xác nhận trên một văn kiện chính thức, nhằm giải toả nỗi nghi ngại của Việt Nam là sẽ bị Hoa Kỳ lật đổ. Điều này cũng chứng tỏ là Hoa Kỳ không quan tâm đến thể chế của một quốc gia đối tác, mà chỉ thật sự quan tâm về mức độ tôn trọng nhân quyền của dối tác ấy. Đây là một lĩnh vực còn có “nhiểu khác biệt” (theo Chủ tịch Sang), “nhiều thử thách” (theo Thủ tướng Obama), nhưng hai bên sẽ tiếp tục đối thoại nhằm “thu hẹp khác biệt.”
  • Điều thuận lợi thứ nhì cho Việt Nam là được Hoa Kỳ tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Bản TBC Việt-Trung không hề nhắc đến điều này. Như vậy, đây chính là cái thông điệp mà Việt Nam muốn cùng Hoa Kỳ gửi cho Trung Quốc. Cũng cần nhận xét thêm ở đây là trong quan hệ đối tác Việt-Mỹ cũng như giữa mọi quốc gia tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, không thể có những cơ chế can dự vào chính sách của nhau như Ủy ban Chỉ đạo song phương hay Hội thảo Lý luận Đảng, chỉ có giữa Trung Quốc và Việt Nam.

TBC cho biết trong “giai đoạn mới” của quan hệ song phương Việt-Mỹ, “(Q)uan hệ đối tác toàn diện mới sẽ tạo ra các cơ chế hợp tác trên nhiều lĩnh vực.” Cụ thể đây là chín lĩnh vực đã có quan hệ đối tác trong đó phần lớn cũng đã có ít nhiều hợp tác nhưng chưa có cơ chế quy mô và bền vững, gồm có: Hợp tác chính trị và ngoại giao, Quan hệ kinh tế và thương mại, Hợp tác khoa học và công nghệ, Hợp tác giào dục, Môi trường và y tế, Các vấn đề hậu quả chiến tranh, Quốc phòng và an ninh, Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, Văn hóa, du lịch và thể thao. Tất cả chín lĩnh vực này đều có lợi cho Việt Nam rất nhiều (ngay cả lĩnh vực nhân quyền) khi đã có cơ chế hợp tác. Riêng hai lĩnh vực dưới đây có một số điểm mới đáng lưu ý trong quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ.

Chính trị và ngoại giao:

TBC cho hay “(H)ai nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc thiết lập cơ chế đối thoại thường kỳ giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan liên kết với các đảng phái chính trị của hai nước.” [Phần sau của câu này trong bản gốc tiếng Anh là “…encouraged dialogues and exchanges between entities associated with political parties in both countries” đã được dịch như sau trong bản dịch chính thức: “…khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng của hai nước.” Dịch như vậy là không đúng với ý nghĩa trong câu tiếng Anh, do thói quen nghĩ đến quan hệ giữa các cơ quan đảng của Việt Nam và Trung Quốc. Thật ra, câu tiếng Anh ở đây muốn nói đến những cuộc đối thoại, trao đổi giữa các cơ quan đầu não trong đảng CS Việt Nam với những cơ cấu hay định chế liên kết với hai đảng Cộng hoà và Dân chủ ở Hoa Kỳ, trong hay ngoài chính quyền, chẳng hạn các Uỷ ban trong Quốc hội hay các think tanks hoạt động độc lập.]

Những cuộc đối thoại đều đặn giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao, giữa Quốc hội hai nước và giữa những ban ngành chủ đạo trong đảng CSVN và những tổ chức có uy tín liên kết với hai đảng chính trị lớn của Mỹ chắc chắn sẽ gia tăng hiểu biết giữa đôi bên, thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trên mọi lĩnh vực càng ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn. Đó là tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo và những ngưới làm chính sách.

Kinh tế và thương mại:

Lĩnh vực này được TBC tập trung vào TPP đang còn trong vòng đàm phán giữa 12 quốc gia, được dự tính kết thúc ở vòng thứ 19 sẽ diễn ra tại Brunei vào ngày 24 tháng Tám 2013. Trong số 10 quốc gia ASEAN, cho đến nay, mới chỉ có Singapore là một trong bốn thành viên chính thức của TPP và Việt Nam là thành viên đàm phán. Bốn nước ASEAN khác có thể sẽ gia nhập TPP là Thái Lan, Lào, Philippines và Indonesia. Trung Quốc không được mời tham gia.

Nếu TPP được kết thúc vào đầu tháng Chín 2013 thì những vướng mắc còn lại về thuế quan và tiếp cận thị trường giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ phải được giải quyết mau chóng, dù cho ngày hiệu lực của TPP đối với mỗi nước thành viên tuỳ theo thời gian hoàn tất thủ tục chấp thuận của mỗi nước. Khi Việt Nam và Hoa Kỳ đã giải quyết xong những vấn đề riêng trước cuối năm, Tổng thống Obama có thể yêu cầu Quốc hội tái áp dụng “đường tốc hành” tức thể thức nhanh về thẩm quyền thúc đẩy thương mại của chính phủ (“fast-track” Trade Promotion Authority) trong Đạo luật vể Thưong mại 1974. Nếu Quốc hội đồng ý thì Dự luật về thi hành TPP sẽ được Quốc hội thông qua trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận Dự luật của Hành pháp.

Mặc dù TPP bị tranh cãi và chống đối bởi nhiều tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, Việt Nam sẽ được hưởng nhiều thuận lợi về hàng hoá dịch vụ và gia tăng việc làm khi tiếp cận thị trường các nước đối tác, nhất là Hoa Kỳ, vì được cắt giảm thuế quan có thể xuống mức số 0 và bãi bỏ các điều kiện đối với đầu tư dịch vụ. Tất nhiên, khi ký TPP, Việt Nam cũng phải chấp thuận mở rộng thị trường của mình cho hàng hoá dịch vụ nước ngoài, nhưng đó chính là thử thách và cơ hội để Việt Nam cải thiện chất lượng hàng hoá sản xuất, làm tốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường và bảo vệ người lao động nội địa.

Két quả tích cực đáng lưu ý trong chuyến đi này là một số thoả thuận đã được ký kết giữa Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam và Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hoa Kỳ, giữa Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam và Công ty Exxon Mobil, giữa Tổng Công ty thăm dò, khai thác dầu khí (PVEP) và Công ty dầu khí Murphy. Những thoả thuận này, dù còn sơ khởi, đã khẳng định chủ quyền biển của Việt Nam đối với “đường chín đoạn” (còn gọi là “đường lưỡi bò”) do Trung Quốc vẽ ra trên Biển Đông, phù hợp với câu trả lời chắc nịch của Chủ tịch Trương Tấn Sang khi được hỏi về vấn đề này trong buổi nói chuyện tại Trung tâm Nghiên cưú Chiến lược và Quốc tế (CSIS): Chúng tôi luôn luôn phản đối ‘đường chín đoạn’ do Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền vì chúng tôi không thấy có cơ sở pháp lý hay kỹ thuật nào cho sự đòi hỏi ấy. Lập trường trước sau như một của chúng tôi là chống lại ‘đường chin đoạn’ mà Trung Quốc đòi hỏi.

Thành công hay thất bại?

Đã có nhiều đánh giá khác nhau ở trong và ngoài nước về chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang tùy theo lập trường chính trị chống đối hay ủng hộ chính quyền, nhưng cũng có một số người phân tích sự kiện một cách khách quan, dù không tránh khỏi thiếu sót hay sai lầm vì không có thông tin về những văn bản còn giữ kín hay về những vấn đề được hai bên thảo luận riêng. Tôi nghĩ rằng tôi thuộc về nhóm thứ hai này. Dù sao chăng nữa, những nhận định và đề nghị trong bài này đều không vì một mục tiêu cá nhân nào mà xuất phát từ mối quan tâm chung cuả những người còn mang dòng máu Việt trước tình trạng sống còn của đất nước và dân tộc. Tôi thành thật tin rằng những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau sẽ hỗ trợ cho nhau nếu cùng nhắm vào mục tiêu chung là bảo vệ độc lập, chù quyền của tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ. Trên căn bản đó, tôi sẽ thẳng thắn trình bày những suy nghĩ của tôi về chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và về những hành động mà chính phủ Việt Nam cần phải làm để có lợi ích cho đất nước, đúng với ý nguyện của toàn dân.

Trước hết, chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang có thể được đánh giá là thành công vì, dù còn hạn chế, đã đem lại cho Việt Nam một số kết quả tích cực, so với những kết quả của chuyến công du Trung Quốc bất lợi và nguy hiểm cho Việt Nam. Dưới đây là mười điểm đối chiếu giữa hai bản TBC:

  1. Hoa Kỳ xác nhận tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong TBC Việt Nam-Trung Quốc, không có một câu nào nói đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
  2. Hoa Kỳ và Việt Nam cùng xác nhận tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế. Đây là cơ sở bình đẳng của quan hệ song phương, khác với những cam kết chỉ áp dụng cho Việt Nam qua phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, do Trung Quốc áp đặt.
  3. Hoa Kỳ và Việt Nam mở một giai đoạn mới của quan hệ song phương bằng việc thiết lập những cơ chế cho sự hợp tác quy mô và bền vững trên mọi lĩnh vực. Trung Quốc ký với Việt Nam một Chương trình chủ đạo và chín văn kiện hợp tác trong đó, như đã phân tích ở phần đầu, có nhiều điểm đáng nghi ngờ và nhiều cái bẫy rất nguy hiểm.
  4. Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam và các nước ASEAN thảo luận với Trung Quốc về việc sớm hoàn tất bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Trung Quốc chỉ nói đến bản Tuyên bố về Ứng xử (DOC) mà không nói gì về COC.
  5. Hoa Kỳ muốn Việt Nam kết thúc việc gia nhập TPP trước cuối năm nay. Nếu mọi chuyện diễn ra như dự liệu, Việt Nam sẽ được hưởng nhiều lợi ích giúp cho các hoạt động sản xuất và kim ngạch thương mại gia tăng mau chóng. Những bản thoả thuận Việt-Nam ký với Trung Quốc như Quy hoạch phát triển 5 năm, các Dự án hợp tác trọng điểm và hợp tác khu vực “hai hành lang, một vành đai” đều được giữ kín, không biết Việt Nam bị những thiệt hại gì.
  6. Việt Nam ký thoả thuận với Trung Quốc mở rộng diện tích khu vực và kéo dài thời hạn hợp tác thăm dò dầu khí ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, gồm có hoạt động thăm dò chung đối với cấu tạo dầu khí vắt ngang đường phân định (mà Việt Nam đã chịu thiệt), khó có thể là một thoả thuận công bằng, minh bạch so với những hợp đồng mà Việt Nam ký với những công ty dầu khí Mỹ và Ấn Độ.
  7. Trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo và giao lưu văn hóa, những hoạt động hợp tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo nhân tài, chuyển giao công nghệ giữa Trung Quốc và Việt Nam chắc chắn không thể so sánh về số lượng và chất lượng với những hoạt động tương tự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Về giao lưu văn hoá thì khỏi phải nói, ai cũng thấy rõ hoạt động này chỉ có lợi cho mưu đồ Hán hoá của Trung Quốc. Hoa Kỷ tất nhiên cũng có mục đích quảng cáo cho các giá trị văn học, nghệ thuật của mình trong các chương trình trao đổi văn hoá với Việt Nam cũng như với bất cứ nước nào khác, nhưng không có mục đích đồng hoá một dân tộc nào. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ, nếu có, là do sự chọn lọc và thâu thái tự do của mỗi dân tộc.
  8. Hoa Kỳ không có chủ trương đưa người lao động đi theo các dự án thực hiện ở Việt Nam như Trung Quốc. Số người lao động có gia đình hay độc thân được cấp giấy phép và số người nhập cảnh lậu từ Trung Quốc tiếp tục gia tăng, nay lại được TBC Việt-Trung làm cho dễ dàng hơn trong việc “cải thiện điều kiện và nâng cao hiệu quả thông hành cho người, hàng hoá, phương tiện qua cửa khẩu nhằm phục vụ việc qua lại và phát triển kinh tế-thương mại giữa hai nước” và nhấn mạnh là “đặc biệt làm dễ dàng việc qua lại tự do giữa đôi bên.” Những di dân mới người Hoa đã thành lập cộng đồng, thậm chí “làng” của họ, tại nhiều tỉnh ở Việt Nam. Ai dám bảo rằng đây không phải là bằng chứng xâm lược bằng quyền lực mềm của Trung Quốc?
  9. Hoa Kỳ có dự án “Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong” (LMI) giúp đỡ cho năm quốc gia ở hạ lưu sông Mekong giải quyết những vấn đề về môi trường, sức khoẻ, giáo dục và phát triển hạ tầng, do hệ quả của 14 con đập thuỷ điện mà Trung Quốc đã và đang xây cất ở thượng nguồn nhằm kiểm soát đời sống những nước ở hạ lưu. Đồng bằng sông Cửu long ở cuối nguồn, vựa lúa nuôi sống cả nước và xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới phải chịu nhiều hậu quả tai hại nhất.
  10. Trong những cuộc đối thoại thường kỳ với những nhân vật cao cấp của Việt Nam, Hoa Kỳ không bao giờ nghĩ đến việc cần phải có những cơ quan hay cơ chế can dự vào chính sách nội bộ của nhau như Ủy ban Chỉ đạo song phương hay Hội thảo Lý luận giữa các đảng chính trị của hai nước, như Trung Quốc đã lập ra với Việt Nam.

Tóm lại, quan hệ đối tác toàn diện đang phát triển giữa Hoa Kỳ và Việt Nam rõ ràng là quan hệ hợp tác bình đẳng phù hợp với lợi ích quốc gia của mỗi nước và luật pháp quốc tế, trái hẳn với quan hệ bất bình đẳng và sự kiểm soát một chiều giữa Trung Quốc và Việt Nam. Hoa Kỳ đã chính thức khẳng định tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Thực tế cũng cho thấy là, với chủ nghĩa thực dụng, Hoa Kỳ sẵn sàng hợp tác với bất cứ chế độ chính trị nào nhưng không thể chấp nhận hay ủng hộ những vi phạm về quyền con người của chế độ ấy. Nhân quyền, cơ sở thiêng liêng của Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ (được nhấn mạnh trong lời mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945) đã thấm vào máu của người dân Hoa Kỳ, hoặc nói như Phó Tổng thống Joseph Biden, “đã đóng triện vào DNA của chúng tôi.” Thực tế thì nhân quyền cũng đã trở thành một giá trị cơ bản và phổ quát của tất cả những nước văn minh trên thế giới.

Mặt khác, Trung Quốc đang phải đối diện với một số vấn đề nghiêm trọng mà chính quyền Tập Cận Bình đã phải báo động và tìm cách giải quyết. Sau 30 năm làm giàu mau chóng vì trở thành “công xưởng của thế giới” nhờ nhân công rẻ, hàng hoá xuất cảng đã giảm sút nhiều từ ba năm qua. Tỉ số tăng trưởng kinh tế ở mức 10.4 năm 2010 đã giảm xuống 9.3 năm 2011 và 7.8 năm 2012. Chính quyền đang cố gắng gia tăng sức tiêu thụ trên thị trường nội địa nhưng không dễ dàng. Các chuyên gia kinh tế cho biết nếu tỉ số tăng trưởng xuống tới mức 7.0 và thấp hơn thì sẽ tạo ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trên các lĩnh vực khác. Trong khi đó, kinh tế Hoa Kỳ đang trên đà phục hồi, chậm nhưng vững chắc. Theo Phó Tổng thống Joe Biden, số việc làm tăng đều trong 40 tháng qua; từ 800.000 việc làm bị mất mỗi tháng hồi đầu năm 2008 đến gia tăng trung bình 200.000 việc mỗi tháng trong năm 2013. Chỉ riêng về công nghệ, 500.000 công việc nhà máy đã được tạo ra nhờ một số công ty sản xuất công nghệ cao đã trở về Hoa Kỳ từ Trung Quốc và những nơi khác. Ở Trung Quốc, ngoài sự giảm sút về kinh tế, các vấn đề tham nhũng, y tế, môi trường, lao động và bất công xã hội đều ở mức rất đáng lo ngại. Khác với hiện tượng bong bóng về thị trường địa ốc ở Trung Quốc, thị trường địa ốc ở Hoa Kỳ đã ổn định sau cuôc Đại Suy thoái trước 2008. Mười bảy ngàn tỉ USD về lợi tức gia đình bị mất đi nay đã lấy lại được đầy đủ. Tình trạng xây cất và sở hữu nhà đất của người dân Mỹ cũng đã gia tăng trở lại.

Nếu lãnh đạo Việt Nam cứ bám chặt vào Trung Quốc thì tương lai chế độ sẽ ra sao nếu có một ngày Trung Quốc gặp biến động xã hội và chính trị?

Sinh lộ cho Việt Nam

Tôi tin rằng lãnh đạo Việt Nam đã thấy hết mọi lý do tại sao cần phải hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ nếu Việt Nam muốn tồn tại như một quốc gia độc lập, dân chủ và phát triển. Đây không phải là quyết định chống Trung Quốc mà là quyết định đúng đắn của một quốc gia ASEAN đối với hai cường quốc có vai trò quan trọng trong khu vực. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu trước diễn đàn Đối thoại Shangri-La: “Chúng ta đặc biệt coi trọng vai trò của một nước Trung Hoa đang trỗi dậy mạnh mẽ và của Hoa Kỳ – một cường quốc Thái Bình Dương. Chúng ta trông đợi và ủng hộ Hoa Kỳ và Trung Quốc khi mà các chiến lược, các việc làm của hai cường quốc này tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền của các quốc gia, vừa đem lại lợi ích cho chính mình, đồng thời đóng góp thiết thực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng chung.” Trung Quốc chắc chắn không ưa lập trường này nhưng không thể phản đối được vì nó quá đúng. Hoa Kỳ thì nhất định là nhiệt liệt tán thành. Bởi thế các lãnh đạo Hoa Kỳ đã nhiều lần xác nhận, kể cả TBC Việt-Mỹ, về quan hệ bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau giữa hai nước. Chỉ một tuần trước hội đàm thượng đỉnh Obama-Sang, Phó Tổng thống Biden đã thuyết trình về chính sách Châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ tại Đại học George Washington. Ông nhấn mạnh trọng tâm của quan hệ giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc và các quốc gia khác là kinh tế. “Nhưng kinh tế chỉ có thể tăng trưởng trong hoà bình và ổn định. Bởi thế quy luật hợp tác trong thế kỷ XXI không chỉ trong phạm vi kinh tế mà cả về mặt an ninh nữa.”

Ở trên, tôi có nhận định chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang là thành công nhưng còn hạn chế. Nói rõ hơn, trên con đường tiến đến hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, Việt Nam đã đi được quá nửa đường và đã vượt được nhiều rào cản. Chỉ còn rào cản cuối cùng là nhân quyền.

Kiên nhẫn không phải là một đức tính của người Mỹ, nhưng lãnh đạo Mỹ đã kiên nhẫn suốt 18 năm qua, dù đã thấy bên đối tác chỉ có mục đích trục lợi bằng thương mại, đầu tư và các chương trình viện trợ. Về nhân quyền, Việt Nam vẫn nói “cần đối thoại để thu hẹp khác biệt” nhưng qua gần 20 lần đối thoại khoảng cách giữa những khác biệt càng ngày càng rộng hơn. Mười tám năm là thời gian kỷ lục về lòng kiên nhẫn của Hoa Kỳ. Như vậy, tại sao Hoa Kỳ có thể kiên nhẫn với Việt Nam lâu đến thế? Câu trả lời ngắn gọn là: Hoa Kỳ cần Việt Nam. Tại sao? Vì Hoa Kỳ cần có sự hợp tác của khối ASEAN trong đó Việt Nam có nhiều tiềm năng và vị trí chiến lược quan trọng nhất. Hoa Kỳ có thể hiểu Việt Nam cần thì giờ để “thoát Trung” một cách an toàn. Hoa Kỳ cũng có thể hiểu là nội bộ lãnh đạo Việt Nam đang có tranh chấp về quyền lực, cho nên dù Bộ Chính trị đã có sự đồng thuận về đối ngoại để tránh khỏi đổ vỡ, phe theo Bắc Kinh vẫn đang phá hoại xu hướng cải cách chính trị, tiếp tục đàn áp người yêu nước và yêu dân chủ,

Đến đây, chúng ta không thể không nghĩ đến trường hợp Myanmar. Tổng thống Thein Sein, người kế nghiệp sau cùng của một chế độ độc tài quân phiệt, đả dám quyết định chấm dứt chế độ độc tài 48 năm để thay thế bằng chế độ dân chủ. Thein Sein vẫn giữ quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế với Trung Quốc nhưng quyết tâm xây dựng thể chế dân chủ cho Myanmar để hội nhập thành công trong thế giới văn minh. Thein Sein đã thả lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi, cho phép Đảng Liên minh Dân chủ tham gia bầu cử tự do, và thả gần hết tù chính trị. Thein Sein cũng có một quyết định rất vì dân là ngưng xây đập thủy điện Myitsone 3,6 tỉ USD đã ký với Trung Quốc. Trong chuyến công du Hoa Kỳ tháng Năm vừa qua, chỉ hai tháng trước Chủ tịch Trương Tấn Sang, Tổng thống Thein Sein đã cùng Tổng thống Obama xác nhận với báo chí là Myanmar đang tiến bước trên lộ trình dân chủ hoá với những cải cách kinh tế và chính trị.

Trở lại trường hợp Việt Nam, Hoa Kỳ không thể chần chờ được nữa vì trước những đe dọa mới của Bắc Kinh ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) và Biển Hoa Đông, các nước trong khu vực đang ráo riết phòng vệ chiến tranh và Hoa Kỳ cần phải có những động tác thích hợp. Lãnh đạo Việt Nam không nên tiếp tục câu giờ, nhất là không nên sai lầm nghĩ rằng Mỹ cần ta thì ta có thể bắt chẹt Mỹ phải nhượng bộ về vấn đề quyền con người. Thật ra Việt Nam cần Mỹ hơn và Mỹ luôn luôn có những lựa chọn chiến lược khác do những nhóm đặc nhiệm (task forces) của Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng nghiên cứu và phối hợp hoạt động.

Suốt chiều dài bốn nghìn năm lịch sử, Việt Nam không có một triều đại hay một chính phủ nào chịu dâng nước cho ngoại bang vì muốn duy trì quyền lợi của dòng họ hay phe đảng của mình. Việt Nam ngày nay đang đứng trước một khúc quanh lịch sử và một tình huống chính trị chưa bao giờ thấy, vì Tổ quốc mất hay còn lại tuỳ thuộc vào sự chọn lựa của một Đảng cầm quyền: mất nước để duy trì chế độ độc tài, hay giữ được nước nhưng phải dân chủ hoá chế độ.

Đề nghị của tôi là lãnh đạo Việt Nam nên thuyết phục lãnh đạo Trung Quốc cùng chọn con đường dân chủ hoá, vì như vậy cả hai chế độ đều có thể tồn tại lâu dài, nhân dân hai nước đều được sống trong tự do, no ấm, và tình hữu nghị giữa hai nước sẽ đời đời bền chặt. Ngoài ra, một Trung Quốc dân chủ sẽ trở thành một siêu cường có uy tín và khả năng đóng góp cho hoà bình và phát triển toàn cầu. Nếu Trung Quốc không nghe thì Việt Nam sẽ thiết lập một lộ trình dân chủ hoá cho riêng mình, như ông Thein Sein đã chọn cho Myanmar. Nếu Trung Quốc không nghe mà còn tính dùng sức mạnh để chinh phục Việt Nam thì lịch sử sẽ lặp lại với các bài học Lý, Trần, Lê, Nguyễn Quang Trung còn rành rành trước mắt. Hơn nữa, Việt Nam ngày nay không cô đơn, ngoài sức mạnh và truyền thống bất khuất của dân tộc còn có hậu thuẫn của một thế giới không khi nào chấp nhận một Trung Quốc độc tài muốn thống trị toàn cầu.

Lãnh đạo Việt Nam sẽ đồng hành với nhân dân hay quay lưng lại với nhân dân? Hãy chờ xem.

California, 12/8/2013

L. X. K.

_______

Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

Advertisements

Tháng Tám 16, 2013 - Posted by | Chính Trị-Xã Hội | , ,

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s