Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

Lại Vĩnh Hùng – Vũ Duy

Tiểu dẫn:

Đầu năm 2013 khởi đầu là thành phố HCM sau đó là các tỉnh thành khác đã phát hành cuốn dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 và phát đến từng hộ gia đình để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Sống đã lâu trong lòng chế độ lần đầu tiên chúng tôi cảm nhận chính quyền có một việc làm tốt để người dân dễ dàng tìm hiểu hơn đỡ công tìm kiếm phức tạp. Tuy đó vẫn chỉ mang nặng tính hình thức, bởi vì cùng với cuốn dự thảo sửa đổi họ phát thêm cho tờ góp ý in sẵn và thu lại nó chỉ hai ba ngày sau đó. Một người dân bình thường hai ba ngày có khi đọc chưa xong huống hồ còn góp ý nên phần lớn họ thu được chỉ là những tờ gấy như lúc đầu. Tuy nhiên, nó vẫn có thể được tính vào 26 triệu ý kiến đóng góp sửa đổi hiến pháp mà là những ý kiến đồng ý với dự thảo (đồng ý nên không có ý kiến gì)?!

Người ta chỉ có thể góp ý kiến sửa đổi khi trong số 124 điều của bản dự thảo chỉ còn một số ít điều sai sót hay chưa hợp lý ở chỗ này chỗ khác. Đằng này thì ngược lại, có thể nói bản dự thảo lần này chỉ là hiến pháp của một nhóm lợi ích nhỏ bé trong đảng cộng sản . Chứ không phải hiến pháp của toàn dân trong đó có phần lớn các đảng viên cộng sản không có chức quyền.

Sau đây là những nhận xét của chúng tôi dựa theo bản dự thảo sửa đổi được phát.

Những nhận xét:

1. Hiến pháp là bộ luật cơ bản của một Quốc Gia là “luật mẹ” sau này mọi bộ luật hay pháp lệnh khác xây dựng phải phù hợp với hiến pháp không để xảy ra tình trạng vi hiến (tức là các luật hay pháp lệnh mẫu thuẫn với hiến pháp) chính vì vậy mà trong hiến pháp phải dùng từ ngữ cụ thể, trong sáng, dễ hiểu có ngữ nghĩa xác định rõ ràng tránh dùng mỹ từ hoặc những từ ngữ mập mờ hiểu thế nào cũng được. Các khái niệm cần phải được định nghĩa rõ ràng.

2. Nhân dân Việt Nam kỳ vọng vào đợt thay đổi hiến pháp lần này mong muốn có những thay đổi căn bản: nền dân chủ được mở rộng, nạm tham nhũng bị hạn chế và đẩy lùi dẫn tới triệt tiêu. Phải lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng, phải đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên hết. Nhưng đến giờ này nhân dân Việt Nam đã thất vọng. Đảng cộng sản chưa sẵn sàng làm việc đó, họ còn đặt lợi ích riêng của đảng CS thực ra là của một nhóm lợi ích nhỏ bé gồm cán bộ lãnh đạo có chức quyền chủ yếu từ cấp huyện tỉnh đến trung ương. Họ đã đặt quyền lợi của nhóm lợi ích nhỏ bé đó lên trên quyền lợi của Dân Tộc và Tổ Quốc. Họ cố tình đánh tráo chữ “trung”  trong “trung với nước” thành “trung với đảng” bằng cách đưa ra một tên lưu manh nào đó nói láo rằng ‘năm 1964 Bác Hồ nói vậy’. Thử hỏi năm 1964 ở miền bắc Việt Nam có tới ba đảng thì trung với đảng nào?

3. Trước khi họp hội nghị trung ương 6 số đông những người có kinh nghiệm thì thờ ơ cho rằng sẽ chẳng có tiến bộ nào hết. Tuy nhiên, có một thiểu số vẫn cố hy vọng nhưng đến hôm bế mạc thì mọi người đều thất vọng như nhau. Trước hết người ta ngơ ngác khi nghe chính ông TBT đảng CS Nguyễn Phú Trọng xụt xịt (gần như bật khóc) đề nghị trung ương kỷ luật bộ chính trị và đồng chí  X ủy viên bộ chính trị … (phát trên truyền hình toàn quốc). Ở bộ chính trị làm gì có đồng chí nào tên X … Phải chăng chính TBT người đứng đầu đảng cũng né tránh. Người đứng đầu đảng né tránh, mất sức chiến đấu thử hỏi các đảng viên thường thì sao?

4. Tàu TQ có treo cờ cắt cáp tàu Bình Minh của VN. Tàu TQ đâm chìm tàu cá của ngư dân các tỉnh miền trung tịch thu phương tiện, bắt ngư dân nộp tiền phạt, tiền chuộc thế nhưng báo chí trong nước im thít, chính phủ im thít chỉ để một vài hội nghề nghiệp lên tiếng phản đối một cách yếu ớt. Đảng CS sợ TQ đến vậy sao? Bạc nhược đến thế sao? (khác hẳn với thời kỳ cố TBT Lê Duẩn). Mãi khi Philippines kiện TQ ra tòa án quốc tế, chính quyền đảng CS Việt Nam mới lấy lại được một chút nhuệ khí. Trong khi đó chính quyền CS ra sức đàn áp nhân dân biểu tình chống TQ xâm lược, ra sức bắt bớ đàn áp những nhà bất đồng chính kiến, những Bloggers, ra sức cướp đất của dân một cách trắng trợn. Cách hành xử ấy của đảng CS khiến nhân dân căm gét.

5. Tờ Thanh niên (báo in) số ra thứ Tư, ngày 24 tháng 4 năm 2013 có hai bài viết nói về những vấn đề nhức nhối trong xã hội Việt Nam hiện nay những vấn đề trầm kha của xã hội chúng ta mà đảng Cộng Sản đã bất lực. Bài thứ nhất nhan đề “Rửa vàng bằng cơ chế” trong bài viết này tác giả đã đưa ra các số liệu thống kê không thể chối cãi về lượng vàng nhập lậu khổng lồ trong hai năm 2011 và 2012 (gồm cả vàng trang sức và vàng thỏi). Riêng số vàng trang sức trong hai năm đã nhập 25,5 tấn trị giá 1, 3 tỷ USD bài báo viết tiếp “Đáng nói, cho đến nay NHNN chưa cấp phép cho bất cứ đơn vị nào nhập vàng nữ trang và nếu đúng thì số vàng nữ trang này là hàng nhập lậu hoàn toàn”. Bài báo viết tiếp “theo thống kê của hiệp hội vàng thế giới trong hai năm này số lượng vàng thỏi nhập vào VN còn lớn hơn hơn nhiều. Cụ thể năm 2011 vàng thỏi nhập vào VN tổng cộng là 87,8 tấn trị giá 4,561 tỷ USD năm 2012 là 75,2 tấn tương đương 4 tỷ USD riêng vàng thỏi trong hai năm 2011 và 2012 NHNN cũng không cấp phép cho công ty nào được nhập loại vàng này”. Vậy thì nó chỉ có thể là vàng nhập lậu, vàng nhập lậu vào rồi NHNN lại cho phép được chuyển đổi thành vàng SJC thế là dùng “cơ chế” để  “rửa” số vàng lậu khổng lồ nói trên. Những chiêu trò “tái cơ cấu”, “tạm nhập tái xuất” hoặc “tạm xuất tái nhập” chỉ là những chiêu trò phù thủy để để tung hỏa mù của bọn Mafia Việt Nam hiện nay. Điều đáng chú ý là vàng trong nước chênh lệch với vàng TG có thời điểm lên tới 6 – 7 triệu đồng/lượng thử hỏi bọn buôn lậu số vàng khổng lồ trên đã thu lợi bất chính bao nhiêu?! Những ai có thể buôn lậu như vậy? Rõ ràng chỉ có thể là những đại gia và những đại gia này còn là các quan chức quyền uy ở chính quyền Trung Ương hoặc có chỗ dựa như vậy. Với số của cải khổng lồ các đại gia này có thể làm khuynh đảo tất cả nền kinh tế chính trị VN hiên nay. Bài thứ hai nhan đề “Nạo vét sông Thị Vải sự mờ ám kinh tởm” kể về việc nạo vét sông Thị Vải bằng cách nạo ở bờ bên này đổ sang bờ kia để rút tiền nhà nước nhờ “những mối quan hệ”. Cũng phải nói thêm trong vài năm lại đây báo Thanh Niên đã có những phát hiện rất lớn như vụ làm xăng giả, nguyên nhân của các vụ cháy xe ở nhiều nơi. Sau hai bài báo này một thời gian ngắn Chính Phủ đã có hướng dẫn chấn chỉnh việc các cơ quan chức năng cung cấp thông tin cho báo chí.

6. Trước đây một số năm Lê Đức Thúy, ủy viên trung ương, thống đốc ngân hàng nhà nước đã lừa đảng CS, lừa Quốc hội ngay giữa thanh thiên bạch nhật bằng cách tuyên bố tiền nhựa có nhiều ưu điểm nổi trội hơn tiền coton như rất khó làm giả, không phai màu, không rách xước. Đến nay sau vài năm sử dụng đồng tiền nhựa, người ta thấy ông cựu thống đốc Lê Đức Thúy đã lừa QH một cách ngoạn mục để lấy số tiền hoa hồng khổng lồ của ngân hàng Úc. Và đồng tiền nhựa không hề có chút ưu điểm nào như ông Thúy đã nói. Ngược lại, nó còn tỏ ra tồi tệ hơn nhiều: tiền mới thì dính rất khó đếm, số lượng tiền giả (đến mức tinh vi, khó phát hiện bằng cách thông thường ngày càng xuất hiện nhiều), tiền nhựa rất dễ bạc màu, phai màu, dễ xước. Tại sao quốc hội lại dễ dãi tin vào cá nhân ông Lê Đức Thúy như vậy? Tại sao tiền đồng của VN phải làm bằng giấy nhựa trong khi đô la của Mỹ có giá trị như thế người ta vẫn làm bằng giấy coton?!

Ông Hà Hùng Cường bí thư tỉnh ủy Quảng Bình, giữa lúc nhân dân trong tỉnh gặp đại họa do trận lũ gây ngập úng lớn nhất trong nhiều thập kỷ đã chia cắt, cô lập nhiều địa phương với khu vực xung quanh. Dù vậy, ông Cường vẫn thực hiện chuyến du ngoạn nước ngoài theo lịch trình. Một ông quan đầu tỉnh đã “vì dân” như thế đấy! Khi bị báo chí phanh phui ông bí thư tỉnh ủy Cường “đã bị bật” lên trung ương làm bộ trưởng tư pháp. Một cách kỷ luât rất “nghiêm minh” của Đảng Cộng Sản đối với cán bộ của mình như thế! Hoặc hạ cánh an toàn ngồi trên núi tiền mà hưởng phúc như Lê Đức Thúy hoặc “bị bật” lên chức vụ cao hơn như Hà Hùng Cường. Cứ như thế, lâu dần những loại vi trùng hại dân hại nước như lũ Thúy, Cường kháng thuốc nên mới dẫn đến hàng loạt các tập đoàn kinh tế nhà nước phá sản hoặc làm ăn thua lỗ kéo dài mặc dù phải đào cả tài nguyên quốc gia mà bán dài hạn cho nước ngoài hoặc phải tăng giá vô tội vạ mặc cho dân có thể sống được hay không ví dụ như các tập đoàn Vinashin, Vinaline, EVN, Than khoáng sản Việt Nam v.v và v.v …

Đồng chí X ủy viên bộ chính trị với cương vị to lớn của mình đã hứa hẹn chống tham nhũng trước quốc hội thế rồi đồng chí chẳng những không chống được tham nhũng, ngược lại tham nhũng còn bùng lên mạnh mẽ và dữ dội hơn cả thời kỳ người tiền nhiệm của đồng chí. Chính đồng chí X và cựu tổng bí thư Nông Đức Mạnh là những kẻ đã đồng ý trên nguyên tắc bán bauxite Tây Nguyên cho TQ đã bỏ ngoài tai những lời phản biện tâm huyết của các nhà khoa học. Đồng chí X còn là người dung túng cho các địa phương có rừng bán rừng đầu nguồn và rừng đặc dụng cho TQ với thời hạn 50 năm!

7. Nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ, thất thoát hàng trăm, hàng ngàn tỷ như EVN, NHNN, tập đoàn than khoáng sản. Đặc biệt tập đoàn than khoáng sản đào tài nguyên đi bán mà mỗi năm cũng thua lỗ hàng chục triệu đô la, các dự án Tân Rai và Nhân Cơ rất mờ mịt. Than được đào lên bán vô tội vạ cho TQ, giai đoạn 2001- 2006 cả nước đóng tàu, cả nước khai thác than để bán. Trong bản tin kinh tế sáng 5/6/2013 trên VTV1 truyền hình Việt Nam đưa tin hiện tại quặng sắt đang được khai thác bán cho TQ với giá rẻ và điều đặc biệt là số quặng sắt giữa hai đầu không thống nhất đầu bán ghi ít còn đầu nhập lại nhiều. Rõ ràng có việc xuất lậu tài nguyên! Trước đây TQ đã mua than của VN về chứa vào các thung lũng của họ, chờ khi VN thiếu họ có thể bán lại cho phía VN. Giờ đến lượt quặng sắt, chắc chắn một điều TQ còn nhiều thung lũng, đảng CS cứ đào cả nước VN đi bán TQ vẫn có đủ chỗ chứa!

Tình trạng kinh tế đất nước ảm đạm, chỉ trong năm 2012 hàng vạn các doanh nghiệp phá sản, hàng ngàn các doanh nghiệp khác buộc phải sản xuất cầm chừng, dẫn đến hàng vạn lao động mất việc. Nợ công lên đến 95% là một gánh nặng cho nền kinh tế đất nước và cho toàn dân. Rừng bị tàn phá mỗi năm hàng ngàn ha thậm chí các loại gỗ quý bị chặt hạ ngay cả ở các vườn quốc gia như gỗ sưa ở Phong nha Kẻ Bàng, gỗ sến ở Ba Bể … Các loại thú hoang dã bị săn bắt thậm tệ kể cả voi rừng, có nhiều loài thú quý hiếm đã tiệt chủng.

8. Có hơn một vạn người chết vì tai nạn giao thông đường bộ mỗi năm (cao hơn nhiều lần con số thương vong do khủng bố giáo phái ở I Rắc) trong số đó tập trung nhiều hơn ở QL I. QL I là tuyến giao thông huyết mạch quan trọng nhất chạy từ bắc vào nam đáng lẽ phải được ưu tiên xây dựng từ trước cho xứng với tầm quan trọng của nó và sau đó xây dựng các đường xương cá ở hai bên nhưng thay vì điều đó đảng cs cho xây dưng đường HCM chủ yếu để “tưởng niệm”, để duy tu bảo dưỡng hàng năm và để cho bọn lâm tặc phá rừng.

9. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được nâng niu gìn giữ hàng ngàn năm. Nhiều giống cây trồng vật nuôi được ông cha tuyển chọn kỹ lưỡng có giá trị dinh dưỡng cao, thơm ngon, bổ dưỡng thích hợp với điều kiện thổ những VN đã bị mai một chỉ trong vài chục năm đảng CS nắm quyền. Thay vào đó văn hóa lai căng trà trộn, những cô gái ăn mặc hở hang ở trên sân khấu ngày càng nhiều (những tiết mục không nhất thiết phải ăn mặc phản cảm như vậy). Đạo đức băng hoại, cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ của mình, con cái bất hiếu đánh đập chửi mắng thậm chí giết chết các bậc sinh thành ra mình. Tội phạm vị thành niên rất nhiều và không có dấu hiệu dừng lại. Nhiều giống cây trồng vật nuôi có giá trị dinh dưỡng thấp không thích hợp với thổ những VN được nhập vào giết chết các giống cây trồng vật nuôi truyền thống trong nước.

10. Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là một việc làm hết sức quan trọng. Chúng ta hiện có khoảng gần ba triệu Việt Kiều đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài trong số họ có khá nhiều người thành đat và mong muốn được đóng góp vào việc xây dựng lại Tổ Quốc. Tuy nhiên, phần lớn trong số đó phải ra đi sau sự cố 1975 do phải tỵ nạn Cộng Sản. Theo tính toán của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn hiện sống và làm việc ở Australia cũng là một thuyền nhân trong giai đoạn ấy thì nhiều nhất  80% số người ra đi đến được nước thứ ba số còn khoảng 50-60 vạn người ứng với 20% vĩnh viễn nằm lại dưới đáy biển sâu. Nên có thể nói phần lớn Việt kiều hiện nay mang trong lòng những thương tích không lành được. Họ mất cha mẹ, anh em, con cháu dễ gì nguôi ngoai được mà thực hiện hòa hợp dân tộc khi còn chế độ cộng sản ngự trị trên quê hương họ.

11. Hiện nay trên thế giới có các mô hình chính trị như sau:

a. Các nước Anh, Bỉ, Đam Mạch, Hà Lan, Nhật, Căm Puchia, Thái Lan, … là những nước quân chủ lập hiến đứng đầu nhà nước là nữ hoàng hay quốc vương tuy nhiên các vị nữ hoàng hay quốc vương này chỉ có tính chất danh dự chứ không nắm thực quyền. Quyền hành pháp nằm trong tay thủ tướng, thủ tướng là người đứng đầu đảng cầm quyền (đảng thắng cử trong kỳ tổng tuyển cử) hoặc liên minh cầm quyền. Đặc điểm nổi bật về chính trị của các nước này là dân chủ đa đảng

b. Các nước Nga, Pháp, Đức … Điểm nổi bật về chính trị của các nước này là dân chủ đa đảng thể chế bán tổng thống. Ở những nước này người đứng đầu nhà nước là tổng thống, tổng thống chỉ định thủ tướng và thủ tướng là người đứng đầu nội các.

c. Còn một số hình mẫu khác nữa như Mỹ, Philippines tuy nhiên hình mẫu nào cũng là dân chủ đa đảng cả.

d. Tìm một nước có một đảng rất khó khăn quay đi quẩn lai cũng chỉ có bắc Triều Tiên, Việt Nam, Cu Ba, Trung Quốc. Đặc điểm nổi bật của hầu hết các nước này đều là các nước độc tài toàn trị.

12. Cái tên nước là cộng hòa xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện trước 1991 có những nước đã từng mang quốc danh này chẳng hạn cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết (gọi tắt là Liên xô) tồn tại từ 1921 đến 1990), cộng hòa XHCN liên bang Nam Tư và một số nước khác ở đông Âu, v.v … Những nước mang quốc danh này đều đã bị xóa sổ trước năm 1991 sau cơn bão cách mạng ở Đông Âu. Gần đây một số nhà độc tài như Gaddafi của Libya và Hugo Chavez của Venesusuela cũng muốn đặt tên nước mình như vậy mặc dù các nhà độc tài này thực chất chẳng hiểu xã hội chủ nghĩa là gì nhưng chưa kịp thực hiện hoặc mới thực hiện nửa vời thì kẻ phải chui vào ống cống mà chết xác bị kéo lê trên đường, kẻ bị ung thư chết trẻ. Nói tóm lại, cái tên cộng hòa xã hội chủ nghĩa … là cái tên độc, cái tên đoản thọ vốn đã bị lịch sử chôn vùi chẳng có gì hám hố. Nếu đặt tên là Việt Nam dân chủ cộng hòa thì lại rất hay vì tên này từng là quốc danh của nước ta từ 1945 đến 1976 một giai đoạn lịch sử dài và khó quên.

13. Bản dự thảo mắc những sai lầm, ví dụ trong điểm 4  điều 13 viết “ngày quốc khánh là ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945. Có lẽ ban soan thảo hiến pháp đã cố ý chơi khăm bằng cách viết câu “ẩn ý” này. Viết như thế là VN chỉ kỉ niệm quốc Khánh vào một ngày 2/9/1945 là ngày duy nhất rồi thôi. Nên viết “ngày Quốc Khánh là ngày mồng 2 tháng 9” (lấy ngày tuyên ngôn độc lập 2/9/1945). Điểm 3 điều 124 viết “ủy ban soạn thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến nhân dân và trình Quốc hội về dự thảo Hiến pháp” cũng sai vì ban soạn thảo chỉ có chức năng soạn thảo còn chức năng tổ chức lấy ý kiến nhân dân thuộc về chính quyền. Điều 121 quy định hội đồng hiến pháp là cơ quan do quốc hội thành lập (điểm 1) trong khi điểm 2 lại nói “hội đồng hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước … ban hành”. Một cơ quan thuộc Quốc Hội lại đi kiểm tra tính hợp hiến của QH thì e không làm được! và v.v … Ngoài ra có lẽ ban soạn thảo hiến pháp chưa nắm chắc ngữ pháp tiếng Việt thì phải. Các từ “hiến pháp” hay “quốc hội” nếu nói chung thì nó là danh từ chung. Nếu nó là hiến pháp hay quốc hội của một nước cụ thể thì nó lại là danh từ riêng phải viết hoa cả hai chữ chứ không phải một (như đã trích dẫn)

Kết luận.

Qua những nhận xét trên đây dẫn đến những kết luận sau:

1. Đảng CS không có khả năng quản lý và lãnh đạo đất nước trong tình hình mới hiện nay.

2. Tham nhũng và trì trệ là con đẻ của chế độ độc đảng, có thể nói chính đảng CS cũng không muốn tham nhũng, cũng không muốn trì trệ thậm chí còn muốn tiêu diệt tham nhũng nhưng do cơ chế độc đảng đã sinh ra như vậy. Đó cũng là điều rất nhiều người đã gọi là lỗi hệ thống.

3. Từ 1992 đến 2013 là 21 năm một khoảng thời gian không dài nhưng hoàn toàn không ngắn so với đời sống của con người và đời sống chính trị cũng như sự phát triển chung của một đất nước. Khoảng thời gian ấy đủ làm cho một người trở nên nghèo khó kiệt quệ hoặc vươn tới giàu có hạnh phúc. Khoảng thời gian ấy cũng đủ làm cho một đất nước vươn lên hoặc tụt hậu, ví dụ nước Nhật năm 1945 bị bại trận, bị kiệt quệ nhưng đến 1960, chỉ 15 năm sau, hàng hóa của Nhật đã xuất khẩu khắp Thế Giới. Hơn nữa phải nói rằng Thế Giới trong giai đoạn 1945 -1960 còn nghèo vì vừa bước chân ra khỏi chiến tranh, nước Nhật vươn lên chủ yếu bằng nội lực của họ. Khác hoàn toàn với Thế Giới trong giai đoạn hiện nay đã trở nên giầu có, Việt Nam đã nhận được nguồn đầu tư khổng lồ từ các nước trong khu vực và Thế Giới nhưng do vẫn tồn tại một nền chính trị độc tài toàn trị lỗi thời không còn phù hợp với nề kinh tế thị trường nên đã làm ăn không hiệu quả lại đi liền với tham nhũng lãng phí. Gần 40 năm kể từ 1975 mọi mặt kinh tế xã hội khoa học kỹ thuật của VN vẫn ỳ ạch, xuất khẩu chỉ là một số mặt hàng nông thủy sản như lúa gạo, tôm cá đông lạnh, một số hàng gia công như quần áo giầy dép, tài nguyên thô hoặc sơ chế tức là những mặt hàng giá trị kinh tế không cao. Nếu nhân dân Việt Nam lại để cho Hiến Pháp bảo trợ cho một nhóm lợi ích nhỏ bé trong đảng CS như trong bản soạn thảo này được thông qua thì hai mươi năm sau nước ta vẫn cứ dậm chân tại chỗ điều đó đồng nghĩa với chúng ta sẽ tụt hậu so với các nước trong khu vực và Thế Gới.

Vì vậy chúng tôi xin đề xuất bản hiến Pháp của toàn dân. Xin toàn thể đồng bào trong và ngoài nước (kể cả ban soạn thảo HP) đọc kỹ coi đây như một tài liệu tham khảo. Cũng xin đề nghị các ông ủy viên bộ chính trị, ủy viên trung ương, các vị đại biểu Quốc Hội, đảng viên đảng CS gạt bỏ những lợi ích không chính đáng hãy vì lợi ích to lớn của Tổ Quốc, của dân tộc và nhân dân để  thực hiện hòa hợp hòa giải dân tộc nhằm biến nước VN thành một nước có nền chính trị đa đảng cạnh tranh công bằng lành mạnh và tiến bộ đặng làm cho nền kinh tế VN phát triển mạnh mẽ vững chắc thành một con rồng trong một tương lại gần ở khu vực đông nam Á.

Cuối cùng, chúng tôi mong muốn và hy vọng bà con Việt Kiều đặc biệt là Việt Kiều ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu hãy phối hợp chặt chẽ với phong trào dân chủ trong nước. Chúng tôi xin đề nghị một số bạn nào đó giỏi tiếng Anh dịch dùm chúng tôi toàn bộ văn bản này sang tiếng Anh để nhân dân toàn Thế Giới biết rằng chúng tôi những người Việt Nam ở trong nước đang thiết tha có được một nhà nước tự do dân chủ và thịnh vượng đến mức nào. Xin hãy chung tay cùng với chúng tôi. Cám ơn nhiều!

***

Xem bản PDF: Đề xuất Hiến pháp mới – PDF

ĐỀ XUẤT HIẾN PHÁP MỚI

Lại Vĩnh Hùng – Vũ Duy

Chương I. ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ TỔ QUỐC VIỆT NAM

Điều 1.

Đất nước Việt Nam gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

1. Phần đất liền nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía đông giáp Biển Đông, phía bắc giáp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phía tây giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Căm Pu Chia. Phần đất liền nước Việt Nam trải dài từ bắc xuống nam khoảng 2000 km, điểm cực bắc là Lũng Cú tọa độ 23023’21” vĩ độ băc 105019’22” kinh độ đông, điểm cực tây là Apa Chải tọa độ 22039’77”vĩ độ bắc 102014’32” kinh độ đông, điểm cực đông là Mũi Đôi 12038’94” vĩ độ bắc 109029’64” kinh độ đông, điểm cực Nam Mũi Rạch Tàu huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau có tọa độ 8056’20” vĩ độ bắc 104083’63” kinh độ đông.

2. Phần hải đảo gồm các đảo nằm rải rác dọc theo bờ biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (trừ một số đảo trong quần đảo Trường Sa nằm gần các nước ASEAN khác do các nước này quản lý và khai thác).

3. Vùng biển gồm vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế theo công ước về luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc.

4. Vùng trời là khoảng không gian tương ứng với phần đất liền, hải đảo và các vùng biển kéo dài đến biên giới trên biển của Việt Nam.

Đất nước Việt Nam do các thế hệ người Việt Nam khai phá, giữ gìn, bảo vệ và quản lý thống nhất và hòa bình trong suốt chiều dài lịch sử không có sự tranh chấp với bất cứ quốc gia nào. Trong mấy chục năm gần đây một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng tình hình đấu tranh giải phóng và thống nhất đất nước Việt Nam đã lấn chiếm một số vùng đất chủ yếu là biên giới và hải đảo. Nhân dân Việt Nam tôn trọng luật pháp quốc tế kiên quyết đấu tranh bằng biện pháp hòa bình để lấy lại những vùng đất và hải đảo đã mất.

Điều 2.

Đất nước Việt Nam là quê hương, là không gian sinh tồn của các dân tộc, của mỗi người Việt Nam và của kiều bào yêu nước mong muốn cống hiến, xây dựng, chiến đấu hy sinh bảo vệ đất nước và do đó là Tổ Quốc Việt Nam của họ.

Điều 3.

Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng đã thấm máu xương của các bậc tiền nhân, là một khối thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm. Quyền lợi của Tổ Quốc là tối cao, phải đặt lên trên hết, hơn bất cứ quyền lợi của đảng phái, cá nhân nào. Mọi hành vi xâm hại quyền lợi Tổ Quốc như coi trọng quyền lợi của đảng phái, nhóm lợi ích, cá nhân ảnh hưởng đến quyền lợi chung của Tổ Quốc đều là có tội.

Điều 4.

Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam được bình đẳng về mọi mặt quyền lợi và nghĩa vụ. Phát huy các bản sắc văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc và bài trừ hủ tục lạc hậu còn sót lại. Nghiêm cấm mọi hình thức gây chia rẽ mất đoàn kết giữa các dân tộc.

Điều 5.

1. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt, chữ viết là chữ quốc ngữ (gọi chung là tiếng Việt), tiếng Việt được dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng trong các buổi phát thanh, truyền hình và báo chí cho nhân dân Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài, trong quảng cáo và giao tiếp hàng ngày ở những nơi công cộng, trong các trường học (trừ các lớp chuyên ngữ, chuyên biệt phải dùng tiếng nước ngoài hoặc các sinh ngữ khác để giảng dạy học tập).

2. Các văn bản hành chính dùng trong nước viết bằng tiếng Việt. Các hiệp ước và các văn bản pháp lý ký kết với quốc gia khác phải viết bằng ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng của quốc gia đó và tiếng Anh (tiếng Anh dùng làm bản đối chứng).

3. Nghiêm cấm các trường hợp quảng cáo chỉ dùng tiếng nước ngoài hoặc nói, viết câu tiếng Việt lại thêm các từ hay cụm từ tiếng nước ngoài một cách tùy tiện, một số trường hợp cần làm sáng tỏ hơn thì phải đặt các từ hay cụm từ tiếng nước ngoài này trong dấu ngoặc đơn.

4. Chỉ dùng tiếng nước ngoài trong các trường hợp cá biệt: nói với người nước ngoài, nói và trao đổi với nhau trong một phạm vi hẹp hoặc khi cần rèn luyện kỹ năng nói tiếng nước ngoài.

Điều 6.

1. Phật Giáo được truyền bá vào Việt Nam từ hàng ngàn năm trước, nhiều tăng sỹ Phật Giáo đã trở thành các vị quốc sư giúp việc hộ quốc an dân. Công Giáo cũng được truyền bá vào Việt Nam từ lâu. Trong các cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc trước đây lương giáo đoàn kết một lòng giúp sức làm nên thành công của cách mạng Việt Nam.

2. Các tôn giáo được tự do hành đạo nhưng phải tôn trọng hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

3. Nghiêm cấm mọi hình thức gây mất đoàn kết giữa các tôn giáo và các giáo phái. Nghiêm cấm mọi hình thức mê tín dị đoan truyền bá dị giáo.

Điều 7.

1. Nghiêm cấm trồng, chế biến, vận chuyển các loại cây có chất gây nghiện hoặc chế phẩm của nó. Các sản phẩm và phương tiện trồng chế biến vận chuyển các loại cây và chất gây nghiện bị tiêu hủy, người vi phạm bị xử lý theo luật định.

2. Nghiêm cấm các hình thức buôn lậu từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam. Tang vật và phương tiện buôn lậu bị tịch thu hoặc tiêu hủy. Người thực hiện hành vi buôn lậu bị xử lý theo luật định.

Điều 8.

Mọi công dân Việt Nam có quyền cư trú trên lãnh thổ Việt Nam nếu họ có yêu cầu và có điều kiện.

Điều 9.

1. Mọi công dân Việt Nam có quyền được sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ, nghiên cứu khoa học nếu việc làm của họ không gây hại cho cộng đồng và không làm ảnh hưởng đến môi trường và tuân theo hiến pháp, pháp luật Việt Nam.

2. Nhà nước tôn trọng khuyến khích động viên, bảo hộ các thành tựu khoa học, các sáng chế, phát minh của công dân.

Điều 10.

Mọi người sống trên đất nước Việt Nam, mọi công dân Việt Nam có nghĩa vụ và bổn phận tôn trọng hiến pháp, pháp luật nhằm biến Việt Nam thành một nơi có cuộc sống bình yên, lành mạnh, an toàn. Một nơi mọi người có sức khỏe, có ước mơ tốt đẹp và thực hiện được ước mơ tốt đẹp của mình.

Điều 11.

1. Lập danh bạ và bản đồ về nguồn gen và nguồn giống quốc gia kể cả giống cây trồng vật nuôi đã mất (nếu có thể).

2. Các giống cây trồng vật nuôi bản địa do ông cha tuyển chọn để trồng trọt, chăn nuôi qua hàng hàng ngàn năm có nhiều đặc tính quý báu như có sức chống chịu với hạn hán, úng lụt, chống chịu sâu bệnh, thích nghi với thổ nhưỡng Việt Nam, có mùi vị thơm ngon, có nhiều chất bổ dưỡng. Nguồn gen quí đó cần phải được gìn giữ để dùng cho các nghiên cứu khoa học.

3. Chỉ được công nhận là giống quốc gia khi trải qua các bước: thí nghiệm, trồng hoặc nuôi trong phạm vi hẹp, trồng hoặc chăn nuôi đại trà qua nhiều năm cho kết quả mong muốn và ổn định.

Điều 12

Đại đoàn kết dân tộc là nguồn lực to lớn, Việt kiều đang sống và làm việc ở nước ngoài là những người đồng bào, là một bộ phận quan trọng của nguồn lực ấy. Nhà nước kêu gọi và tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào ở nước ngoài đầu tư về quê hương. Nhà nước kêu gọi và tạo điều kiện để các nhà khoa học, các nhà khoa học quân sự, các kỹ sư về nước làm việc để hiện đại hóa đất nước trong một tương lai gần.

Điều 13.

Tội phản bội tổ quốc là tội danh lớn nhất. Tội phản bội tổ quốc bao gồm:

1. Cam tâm làm gián điệp cho nước ngoài làm phương hại đến an ninh, an toàn và phương hại đến các lợi ích quốc gia khác.

2. Làm mất đất đai của Tổ Quốc, đất đai đã thấm máu xương của tổ tiên ông cha.

3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi còn đương chức, đương quyền bán rẻ tài nguyên hoặc các nguồn lợi của quốc gia cho nước ngoài với mục đích vụ lợi.

4. Vì lợi ích đảng phái, phe cánh, nhóm lợi ích cố tình làm đất nước rơi vào tình trạng lạc hậu trì trệ kéo dài.

Điều 14.

Quốc danh chính thức và đầy đủ của nước Việt Nam là Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Điều 15.

1. Quốc kỳ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hình chữ nhật chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài ở giữa có ba ngôi sao vàng năm cánh kích thước bằng nhau nằm thẳng hàng, có một ngôi sao nằm chính giữa lá cờ và hai ngôi khác ở hai bên khoảng cách từ ngôi sao này đến ngôi sao khác bằng một phần chín chiều dài lá cờ. Ba ngôi sao đó tượng trưng cho ba miền của đất nước hay cho miền núi cao, đồng bằng và biển đảo, nó cũng tượng trưng cho ba chính đảng tham gia tranh cử trong mỗi kỳ tổng tuyển cử.

2. Quốc huy là nửa hình tròn có lá cờ theo mẫu quốc kỳ nói trên, chung quanh có bông lúa, ở dưới có bánh xe răng cưa với dòng chữ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

3. Quốc ca lấy nhạc và lời bài tiến quân ca làm bài quốc ca chờ giới nhạc sỹ Việt Nam sáng tác chọn để thay thế cho phù hợp với tình hình mới.

Điều 16.

Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là Hà Nội.

Điều 17.

1. Tên của các anh hùng dân tộc, chí sỹ cách mạng, danh nhân văn hóa, những người có công với dân với nước được lấy để đặt tên đường, tên phố.

2. Tên của nhiều thành phố vùng đất trên thế giới nhất là ở các nước văn minh tồn tại hàng ngàn năm. Trong khi, các chính quyền nhà nước cũ ở Việt Nam đã nhiều lần tách nhập đổi tên các vùng đất làm mất đi những địa danh lịch sử gắn bó lâu dài trong lòng người dân, làm mất đi bản sắc văn hóa và truyền thống lịch sử và làm thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế đất nước. Nhà nước sẽ nghiên cứu trả lại các tên gọi cũ cho các vùng đất đó.

3. Việc tách nhập đổi tên không có ý nghĩa gì to lớn đối với sự phát triển của đất nước.

Chương II. CHÍNH TRỊ.

Điều 18.

Đảng chính trị hay chính đảng là tổ chức của những cá nhân có xu hướng chính trị giống nhau đứng ra thành lập. Đảng chính trị phải có cương lĩnh chính trị, có chủ trương đường lối rõ ràng và được công bố công khai trên báo in hoặc trên website của đảng mình. Đảng chính trị có thể bị giải tán hoặc tự giải tán.

Điều 19.

1. Chế độ chính trị ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là chế độ dân chủ đa đảng theo hình thức nhà nước pháp quyền bán tổng thống.

2. Ở Việt Nam chỉ có năm chính đảng được phép hoạt động tương đương 18 triệu dân/chính đảng. Đảng chính trị chưa được phép hoạt động có thể liên minh với một đảng chính trị được phép họa động khác.

Điều 20.

1. Đảng cầm quyền là đảng giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử nghĩa là chiếm được đa số ghế trong quốc hội. Người đại diện của đảng cầm quyền trở thành chủ tịch nước và đứng ra thành lập chính phủ.

2. Trong trường hợp đảng không có đủ số ghế theo quy định để thành lập chính phủ thì có thể liên minh với đảng khác để có đủ số ghế cần thiết thành lập chính phủ trong trường hợp này gọi là liên minh cầm quyền.

3. Người đại diện của đảng có nhiều ghế hơn trong quốc hội cần thỏa hiệp với các đảng khác trong liên minh cầm quyền về các thành viên nội các trong chính phủ liên hợp của liên minh cầm quyền để trở thành chủ tịch nước.

Điều 21.

1. Đảng đối lập là đảng cạnh tranh chính trị lớn nhất với đảng cầm quyền.

2. Liên minh đối lập là một số đảng chính trị liên kết với nhau cạnh tranh chính trị với đảng cầm quyền.

3. Mọi sự cạnh tranh diễn ra công bằng dân chủ công khai đúng hiến pháp và pháp luật. Các tranh chấp được tòa án hiến pháp thụ lý và xét xử.

Điều 22.

1. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, chủ tịch hội đồng quốc phòng, tổng tư lệnh các lực vũ trang, người tuyên bố các tình trạng khẩn cấp và chiến tranh. Chủ tịch nước chỉ định thủ tướng và phải được quốc hội phê chuẩn.

2. Thủ tướng chỉ định các phó thủ tướng, các bộ trưởng, tổng cục trưởng sau khi đã bàn bạc thống nhất với chủ tịch nước. Thủ tướng là người đứng đầu nội các và trực tiếp điều hành nội các. Thủ tướng phải chịu trách nhiệm trước chủ tịch nước, trước quốc hội và nhân dân.

3. Các bộ trưởng, tổng cục trưởng điều hành công việc của bộ mình, tổng cục mình và chịu trách nhiệm trước thủ tướng. Mỗi bộ (tổng cục) có một bộ (tổng cục) trưởng và các thứ trưởng (phó tổng cục trưởng), thứ trưởng (phó tổng cục trưởng) thứ nhất thay mặt bộ trưởng (tổng cục trưởng) điều hành bộ (tổng cục) khi bộ trưởng (tổng cục trưởng) vắng mặt.

Điều 23.

Năm năm tổ chức tổng tuyển cử một lần. Mỗi lần tổng tuyển cử chỉ có ba chính đảng được phép tham gia. Các chính đảng được tham gia kỳ tổng tuyển cử là các chính đảng có số lượng đảng viên nhiều tính từ cao đến thấp theo số liệu báo cáo bằng văn bản của chính đảng đó với ủy ban bầu cử trung ương ít nhất sáu tháng trước khi diễn ra bầu cử.

Điều 24.

Đảng chính trị nào cố tình kê khai sai số đảng viên của đảng mình hoặc có những hành vi vi phạm hiến pháp, pháp luật về cạnh tranh công bằng sẽ bị hủy kết quả và bị cấm ít nhất hai kỳ tổng tuyển cử tiếp theo không được tham gia tranh cử. Nếu sai phạm nghiêm trong hoặc tái diễn sẽ bị tòa án hiến pháp tuyên bố hủy tên đảng (giải tán).

Điều 25.

Không một đảng chính trị nào tham gia khủng bố hay tài trợ khủng bố nếu bị phát hiện đảng sẽ bị cấm hoạt động lập tức.

Điều 26.

1. Quốc hội Việt Nam là cơ quan tối cao có chức năng định chế hiến pháp, pháp luật hoặc phê chuẩn pháp luật do các nhóm nghị sỹ quốc hội đề nghị. Quốc Hội có chức năng giám sát việc thi hành hiến pháp, pháp luật của cơ quan hành pháp (nội các chính phủ).

2. Trong quốc hội có một ủy ban thường vụ quốc. Số lượng ủy viên thường vụ quốc hội bàng 1/20 số đại biểu quốc hội và do Quốc hội bầu ra. Chức năng của Ủy ban thường vụ quốc hội tập hợp các ý kiến, các chủ đề cần bàn bạc thảo luận, các vấn đề lớn nảy sinh trong đời sống xã hội về quốc kế dân sinh, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng an ninh, … trước mỗi kỳ họp họp Quốc hội.

3. Trong quốc hội có các ban của quốc hội. Mỗi ban phụ trách một hay một số vấn đề có liên quan với nhau giúp ủy ban thường vụ quốc hội làm tốt nhiệm vụ của mình.

4. Có một chủ tịch quốc hội và các phó chủ tịch quốc hội, chủ tịch quốc hội đồng thời là chủ tịch UBTV QH. Mỗi ban của quốc hội có một trưởng ban và các phó ban.

5. Quốc hội họp mỗi năm hai lần mỗi lần một tháng vào nửa cuối tháng trước và nửa đầu tháng sau.

6. Việc vận động tranh cử và bầu cử của các cử tri được chia thành các khu vực, mỗi khu vực gồm ba, bốn tỉnh ở gần nhau về vị trí địa lý.

7. Các nghị quyết của quốc hội được phê chuẩn dựa theo nguyên tắc đa số đại biểu tán thành và dựa trên hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết.

8. Việc phúc quyết toàn bộ hiến pháp thuộc về nhân dân thông qua trưng cầu dân ý. Quốc hội tổ chức việc trưng cầu dân ý một cách rộng rãi, trung thực và công khai có sự gám sát của tòa án hiến pháp của báo chí truyền thông và có thể có sự tham gia của một số tổ chức nước ngoài ngay sau khi có dự thảo hiến pháp. Trong vòng 60 ngày kết quả phải được thông qua trước cuộc họp toàn thể của quốc hội.

Điều 27.

1. Các đại biểu quốc hội được bầu trong khu khu vực nào là đại biểu quốc hội của khu vực đó. Đại biểu quốc hội của khu vực có chức năng quan sát, lắng nghe ý kiến của cử tri khu vực mình về các vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, gám sát việc thực hiện hiến pháp pháp luật của các ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên địa bàn khu vực để đưa ra bàn bạc trong cuộc họp hàng tháng, hàng qúy, ra nghị quyết khuyến nghị các tỉnh còn yếu kém và báo cáo quốc hội trong mỗi kỳ họp quốc hội.

2. Các vị đại biểu quốc hội có thể đi lại nghiên cứu tìm hiểu theo từng nhóm, từng đề tài trong phạm vị khu vực mình.

3. Đại biểu quốc hội khu vực họp mỗi tháng một lần trước khi diễn ra kỳ họp quốc hội, trong các cuộc họp này chủ tịch các tỉnh trong khu vực là đại biểu đương nhiên. Trụ sở của đại biểu quốc hội khu vực được xây ở nơi thuận tiện nằm trong một trong các tỉnh thuộc khu vực mình.

Điều 28.

1. Mỗi tỉnh thành lập các hội đồng nhân dân liên huyện. Hội đồng nhân dân liên huyện gồm các huyện có địa gới hành chính gần nhau. Hội đồng nhân dân liên huyện căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương về các vấn đề đời sống dân sinh, trật tự an ninh họp ra nghị quyết yêu cầu chính quyền giải quyết.

2. Hội đồng nhân dân liên huyện có chức năng theo dõi việc thực thi hiến pháp và pháp luật, thực thi nghị quyết của hội đồng nhân dân liên huyện của chính quyền các cấp xã, huyện trong khu vực mình, phát hiện những sai sót, yếu kém trong thực thi công vụ của chính quyền, những nguyện vọng chính đáng của cử tri, phát hiện và đề xuất các việc cần làm để giải quyết các vấn đề dân sinh cấp bách, tổ chức các buổi trao đổi với chính quyền nơi mình phụ trách hoặc đề đạt ý kiến lên đại biểu quốc hội khu vực mình.

3. Nghị quyết của hội đồng nhân dân liên huyện được sao gưởi đại biểu quốc hội khu vực (để báo cáo), chính quyền cấp huyện trong khu vực (để thực hiện) và cho tòa án hiến pháp liên huyện khu vực mình và cho các cơ quan hữu quan khác.

4. Hội đồng nhân dân liên huyện chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ đai biểu quốc hội khu vưc. Trụ sở của hội đồng nhân dân cấp liên huyện có thể đóng ở nơi thuận lợi cho sự hoạt động chung.

Điều 29.

Không tổ chức hội đồng nhân dân cấp xã, huyện, tỉnh.

Chương III. NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC

Điều 30.

1. Nhà nước Việt Nam được chia thành bốn cấp quản lý: cấp trung ương, cấp tỉnh (gồm tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (gồm huyện, quận, thị xã), cấp xã (gồm xã,  phường, thị trấn).

2. Cấp tỉnh (gồm tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương) là cấp hành chính thứ hai sau trung ương. Trong tỉnh có thể có thành phố thuộc tỉnh, các huyện và thị xã. Trong thành phố trực thuộc trung ương có các quận, huyện, thị xã.

3. Cấp huyện (gồm huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã) là cấp hành chính thứ ba. Huyện là danh xưng thuộc tỉnh hoặc ở ngoại thành của các thành phố trực thuộc trung ương, trong huyện có các xã, thị trấn . Quận là danh xưng tương đương với huyện nhưng thuộc nội thành, nội thị, trong quận có phố, nhiều phố gần nhau làm thành một phường. Thành phố trực thuộc tỉnh là danh xưng tương đương huyện, thường là tỉnh lỵ, trong thành phố thuộc tỉnh có các phường. Thị xã là danh xưng tương đương với huyện đối với khu vực không nằm trong nội thành (đối với thành phố trực thuộc trung ương) nhưng có điều kiện thuận lợi để phát triển về nhiều mặt, trong thị xã có các đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn.

4. Cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) là cấp hành chính cuối cùng, xã được dùng đối với khu vực nông thôn, thị trấn là khu vực tương đối phát triển ở trong một huyện thường là huyện lỵ, phường thuộc quận của nội thành, nội thị.

Điều 31.

Ở mỗi cấp đều có một ủy ban để điều hành công việc thực thi hiến pháp và pháp luật chăm lo đời sống dân sinh, phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh trong phạm vi địa phương gọi là ủy ban hành chính cấp tương đương, người đứng đầu ủy ban cấp nào thì gọi là chủ tịch cấp đó. Riêng ở cấp trung ương thì gọi là ủy ban nhà nước và người đứng đầu là chủ tịch nước.

Điều 32.

1. Chủ tịch nước là người đứng đầu đảng cầm quyền hay liên minh cầm quyền là nguyên thủ quốc gia là người chịu trách nhiệm cao nhất về hành pháp, là chủ tịch hội đồng quốc phòng. Trong một số tình huống cần thiết và cấp bách liên quan đến an ninh quốc gia hay quốc kế dân sinh chủ tịch nước có quyền phủ quyết ý kiến của quốc hội. Chủ tịch nước có nhiệm kỳ 5 năm cùng với nhiệm kỳ của quốc hội. Chủ tịch nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước quốc hội và trước toàn dân.

2. Thủ tướng là người được chủ tịch nước chỉ định và được quốc hội phê chuẩn, thủ tướng chịu trách nhiệm điều hành trực tiếp nội các chính phủ, an ninh quốc phòng phát triển nền kinh tế đất nước và chịu trách nhiệm trước chủ tịch nước và giải trình trước quốc hội khi được triệu tập. Các phó thủ tướng là người được thủ tướng đề nghị sau khi đã thỏa thuận với chủ tịch nước và được quốc hội phê chuẩn.

3. Bộ trường (tổng cục trưởng) gọi chung là bộ trưởng là người đứng đầu bộ (tổng cục) được thủ tướng chỉ định có sự nhất trí của chủ tịch nước và được quốc hội thông qua. Dưới bộ trưởng có các thứ trưởng (phó tổng cục trưởng).

4. Trong mỗi bộ có các vụ, vụ làm nhiệm vụ chuyên môn phụ trách công việc đặc thù nào đó. Vụ trưởng là người đứng đầu vụ được bộ trưởng chỉ định, dưới vụ trưởng có các vụ phó

Điều 33.

1. Mỗi ủy ban hành chính cấp tỉnh hay thành phố trực thuộc trung ương có một chủ tịch và các phó chủ tịch. Chủ tịch là người thuộc đảng cầm quyền, các phó chủ tịch là người thuộc đảng cầm quyền hay đảng khác nhưng ít nhất một nửa số phó chủ tịch là người của đảng cầm quyền.

2. Các tỉnh có phương hướng phát triển kinh tế độc lập nhưng không được mâu thuẫn với đường lối phát triển của chính quyền trung ương. Trong trường hợp có mâu thuẫn thì phải điều chỉnh dàn xếp hợp lý. Nhà nước khuyến nghị các tỉnh phát triển theo thế mạnh chung của vùng miền, kinh tế của một tỉnh không nên tách rời kinh tế vùng miền.

Điều 34.

Ở mỗi cấp hành chính được biên chế vừa đủ số người để thi hành công vụ

Điều 35.

1. Công đoàn là một tổ chức xã hội nghề nghiệp đại diện cho quyền lợi giai cấp công nhân.

2. Hội nông dân là hội đoàn nghề nghiệp đại diện quyền lợi cho giai cấp nông dân.

3. Đoàn thanh niên, đội thiếu niên, nhi đồng là các tổ chức xã hội cần được nhà nước nuôi dưỡng giáo dục rèn luyện đầy đủ để phát triển toàn diện trở thành các công dân tương lại có đầy đủ sức khỏe, trí tuệ, học vấn.

Điều 36.

Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan độc lập có chức năng tổ chức tổng tuyển cử hoặc phải tổ chức bầu lại (nếu không có đảng chính trị nào hội đủ số phiếu cần thiết). Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động theo hiến pháp và pháp luật

Điều 37

Tòa án hiến pháp tối cao (hay tòa bảo hiến) là cơ quan tối cao bảo vệ hiến pháp và pháp luật. Tòa án hiến pháp tối cao có chức năng rà soát việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: các chỉ thị, nghị quyết, quyết định, thông tư của quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ, v.v … trái hiến pháp và pháp luật và ra quyết định khuyến nghị với đơn vị, tổ chức ra các văn này đình chỉ việc thi hành.

Điều 38.

Tòa án tối cao là cơ quan xử án cao nhất. Tòa án tối cao có chức năng xét xử các vụ phúc thẩm và giám đốc thẩm mà tòa án cấp dưới không có khả năng hoặc hết chức năng xử. Tòa án tối cao hướng dẫn việc xét xử cho các tòa án khu vực và toàn án liên huyện. Tòa án các cấp phải xử đúng người đúng tội, không để oan sai, không bỏ lọt tội phạm, không để tồn đọng kéo dài.

Điều 39.

Viện kiểm sát tối cao giữ quyền công tố trong các phiên tòa phúc thẩm hay giám đốc thẩm và có chức năng hướng dẫn các viện kiểm sát cấp dưới giữ quyền công tố đúng pháp luật. viện kiểm sát các khu vực và liên huyện giữ quyền công tố ở các phiên tòa cấp tương ứng

Điều 40.

Tòa án hiến pháp, tòa án tối cao, viện kiểm sát tối cao có ba cấp: trung ương, cấp khu vực và cấp liên huyện. Các tòa và viện cấp dưới chỉ nhận chỉ thị nghị quyết từ các tòa cấp trên theo ngành dọc tương ứng và không chịu sự chi phối nào của chính quyền các cấp.

Điều 41.

Chế độ tiền lương, tiền thưởng phải được thực hiện công bằng, công khai và căn cứ vào ngạch bậc lương, hoàn thành nhiệm vụ, năng lực cá nhân … Chế độ nâng ngạch bậc công chức, bổ nhiệm chức vụ phải căn cứ vào trình độ học vấn, thành tích công tác, năng lực cá nhân và có định kỳ.

Điều 42.

Sơ đồ tổng quát cấu trúc nhà nước Việt Nam

Lập hiến, Lập pháp

  • Quốc hội: lập hiến, lập pháp
  • Nhân dân: phúc quyết hiến pháp

Hành pháp

  • Chủ tịch nước
  • Chính phủ 
  • Kiểm toán nhà nước

Tư pháp

  • Tòa án hiến pháp
  • Tòa án tối cao
  • Viện kiểm sát tối cao       

Chương IV. QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN

Điều 43.

Người sống hợp pháp trên đất nước Việt Nam là những người nước ngoài có hộ chiếu rõ ràng hợp lệ đến Việt Nam một thời gian nhất định với mục đích tham quan, du lịch, công tác, nghiên cứu khoa học, những trẻ em là con của công dân Việt Nam và công dân Việt Nam.

Điều 44.

1. Mọi người sống hợp pháp trên đất nước Việt Nam đều được hưởng quyền được bảo vệ về thân thể và nhân phẩm.

2. Mọi hành vi xâm phạm về thân thể nhân phẩm quyền lợi đối với người sống hợp pháp trên đất nước Việt Nam đều bị trừng trị theo pháp luật Việt Nam.

Điều 45.

Nhà nước Việt Nam thừa nhận các quyền cơ bản của con người như sau:

1. Quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc.

2. Quyền có việc làm, quyền có chỗ ở.

3. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tư tưởng.

4. Quyền được lập hội, quyền được biểu tình.

5. Quyền được tiếp nhận và trao đổi thông tin trung thực.

6. Quyền được thực hiện những nhu cầu cá nhân không có hại cho cộng đồng và được luật pháp thừa nhận.

7. Quyền được tố cáo (khi có những bằng chứng xác thực) đơn vị, cá nhân vi phạm hiến pháp pháp luật gây bất lợi cho cá nhân khác, cộng đồng, nhà nước. Nhà nước giữ kín và bảo hộ sự an toàn về tính mạng tài sản của người tố cáo.

8. Không có người nào bị bắt và tạm giữ quá 48 giờ mà cơ quan chức năng không có đủ bằng chứng xác đáng để bắt giữ.

9. Người bị bắt và tạm giữ trong vòng 48 giờ có quyền được biết người và chức vụ của người đã bắt mình và ra lệnh bắt mình.

10. Người bị bắt và tạm giữ không đúng pháp luật có quyền được đòi bồi thường về danh dự nhân phẩm quyền lợi. Người thực hiện việc bắt và tạm giữ sai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.

Điều 46.

1. Nghiêm cấm mọi hành vi mớm cung, ép cung khi lấy lời khai.

2. Nghiêm cấm dùng bạo lực, truy bức, nhục hình hoặc bất kỳ hành vi xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của con người.

3. Khi buộc tội một người phải có đủ chứng cứ phạm tội của người đó.

4. Một người chỉ coi là có tội khi tòa án tuyên là có tội trong một bản án có hiệu lực thi hành.

Điều 47.

1. Không ai có quyền làm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác.

2. Không ai có quyền thu thập lưu trữ những thông tin cá nhân của người khác để dùng vào mục đích không chính đáng.

Điều 48.

1. Người nước ngoài sống trên đất nước Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

2. Người nước ngoài được phép của chính phủ Việt Nam đến Việt Nam sống và làm ăn lâu dài phải có nghĩa vụ như công dân Việt Nam.

3. Chính phủ Việt Nam có quyền bắt giữ, cầm tù hoặc trục xuất bất cứ người nước ngoài nào nếu họ vi phạm hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

4. Công dân Việt nam có nghĩa vụ nộp thuế, nghĩ vụ bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ tôn trọng hiến pháp và pháp luật và bảo vệ môi trường.

Chương V. VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

Điều 49.

1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa được hình thành và phát triển lâu dài trong quá trình lịch sử trở thành cốt cách của dân tộc.

2. Nhà nước chăm lo phát triển nền văn hóa đậm đà bản dân tộc và nghiên cấm du nhập văn hóa lai căng đồi trụy.

Điều 50.

Nhà nước khuyến khích truyền bá văn hóa tuyền thống: mở trường dạy các nhạc cụ dân tộc, mở trường dạy hát chèo, các làn điệu dân ca ba miền, đàn ca tài tử …

Điều 51.

Nhà nước khuyến khích việc giao lưu văn hóa với nước ngoài du nhập có lựa chọn những nét đẹp văn hóa của nước ngoài.

Điều 52.

Giáo dục và đào tạo quốc dân được chia thành bốn bậc mỗi bậc học lại được chia thành các cấp học.

Điều 53.

1. Bậc giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm và được chia thành ba cấp học: tiểu học (TH) học năm năm, trung học cơ sở (THCS) học bốn năm, trung học phổ thông (THPT) học ba năm.

2. Học sinh học đầy đủ chương trình tiểu học không bị xếp loại yếu, kém được chuyển lên học cấp THCS, những học sinh bị xếp loại yếu được nhà trường tổ chức thi lại nếu đạt yêu cầu học sinh được chuyển lên học cấp THCS, học sinh xếp loại yếu không vượt qua được kỳ thi lại và học sinh xếp loại kém được học lại.

3. Học sinh học cấp THCS tham gia học đầy đủ về thời gian và không bị xếp loại yếu, kém thì được tham dự kỳ thi tốt nghiệp THCS. Những học sinh xếp loại yếu được nhà trường tổ chức thi lại nếu đạt yêu cầu thì được tham gia kỳ thi tốt nghiệp THCS. Học sinh xếp loại yếu không vượt qua được kỳ thi lại và học sinh xếp loại kém được học lại. Những học sinh tốt nghiệp THCS có thể tiếp tục học lên cấp THPT hoặc học nghề.

4. Học sinh học cấp THPT tham gia học đầy đủ về thời gian và không bị xếp loại yếu, kém thì được phép tham gia kỳ thi tốt nghiệp phổ thông tổ chức vào cuối mỗi năm học. Những học sinh bị xếp loại yếu nhà trường tổ chức thi lại nếu đạt yêu cầu thì cho tham dự kỳ thi tốt nghiệp. Học sinh xếp loại yếu không vượt qua được kỳ thi lại và các học sinh loại kém không được dự thi tốt nghiệp.

5. Học sinh tốt nghiệp THPT có thể học nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hoặc học lên đại học. Học sinh không được dự thi quá hai lần kỳ thi vào đại học.

Điều 54.

1. Bậc trung cấp chuyên nghiệp và học nghề kéo dài ba năm và chia thành ba cấp:

a. Cấp trung cấp chuyên nghiệp thời hạn học tập ba năm đối tượng học là những học sinh tốt nghiệp THPT. Trung cấp chuyên nghiệp đào tạo cô nuôi dạy trẻ, giáo viên cấp tiểu học, kỹ thuật viên sơ cấp, y tá, hộ lý …

b. Trung cấp nghề, đối tượng vào học là những học sinh tốt nghiệp THCS thời gian học ba năm nhưng có một phần thời gian dành để bổ túc những kiến thức khoa học cơ bản cần thiết cho việc học nghề. Tốt nghiệp cấp bằng trung cấp nghề, bậc hai thợ.  

c. Cao đẳng nghề, đối tượng là học sinh tốt nghiệp THPT thời hạn học ba năm không có thời gian bổ túc kiến thức, tốt nghiệp cấp bằng cao đẳng nghề, bậc thợ: bậc ba.

2. Bậc thợ cao nhất cho trung cấp nghề là bậc 8, bậc thợ cao nhất cho cao đẳng nghề là bậc 10.

3. Người có bằng trung cấp nghề muốn học tập để vươn lên cao đẳng nghề ngoài việc có tay nghề còn cần nắm được lý thuyết tương đương.

4. Bốn năm tổ chức thi nâng bậc thợ một lần.

Điều 55.

Bậc cao đẳng, Đại học gồm hai cấp:

1. Cấp cao đẳng thời hạn học tập ba năm đối tượng là những học sinh tốt nghiệp THPT, dự   thi đại học được trên điểm sàn nhưng chưa đủ vào học đại học. Cấp cao đẳng đào tạo giáo viên cấp THCS, kỹ thuật viên trung cấp.

2. Cấp đại học thời gian học tập ít nhất bốn năm, đối tượng là những học sinh tốt nghiệp THPT và trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh đại học. Cấp đại học đào tạo các cử nhân (đối với các sinh viên học ở khối trường khoa học cơ bản) và kỹ sư (đối với các sinh viên học ở khối trường khoa học kỹ thuật).

Điều 56.

Bậc cao học gồm hai cấp: thạc sỹ và tiến sĩ

1. Cấp thạc sĩ thời gian học tập nghiên cứu hai năm dành cho các sinh viên tốt nghiệp loại khá giỏi và qua được kỳ thi tuyển sinh đào tạo thạc sỹ hoặc các sinh viên khác sau khi tốt nghiệp đại học đã ra trường công tác ít nhất ba năm và qua kỳ thi tuyển sinh đào tạo thạc sỹ.

2. Cấp tiến sỹ thời gian học tập nghiên cứu ba năm đối tượng được đào tạo tiến sỹ là các thạc sỹ có cùng chuyên ngành và qua được kỳ thi đào tạo tiến sỹ hoặc các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi có cùng chuyên ngành và qua được kỳ thi đào tạo tiến sỹ.

3. Thạc sỹ và tiến sỹ có thể đào tạo ở trong nước hay nước ngoài. Ở trong nước chỉ các cơ sở có đủ khả năng về nhân lực (các tiến sỹ giàu kinh nghiệm, giáo sư, viện sỹ) và có đủ cơ sở vật chất mới được cấp phép đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ.

Điều 57.

1. Các trường tiểu học được mở tại các xã, phường trong các cụm dân cư để thuận tiện cho việc học tập của học sinh và đưa đón con em của phụ huynh.

2. Các trường THCS được mở ở các xã phường hoặc liên xã phường. Trong trường hợp phải mở ở liên xã hoặc liên phường thì phải chọn một vị trí thuận lợi cho việc đi lại học tập của học sinh.

3. Các trường THPT được mở khu vực liên xã, liên phường. Ngành giáo dục cần chú ý trong việc chọn ví trí xây dựng trường học liên xã, liên phường để đảm bảo thuận lợi cho việc đi lại học tập của học sinh.

4. Các trường trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, đại học mở ở các khu vực tỉnh thành phố (căn cứ theo các cụm đơn vị bầu cử) quy mô đào tạo hàng năm căn cứ vào nhu cầu lao động và việc làm của các tỉnh trong khu vực và có thể của các khu vực lân cận.

Điều 58.

Chỉ các trường học có đủ lược lượng cán bộ giảng dạy, đủ cơ sở vật chất và phương tiện dạy học mới được tiến hành đào tạo.

Điều 59.

1. Mỗi năm học của nền giáo dục quốc dân bắt đầu từ 5 tháng 9 kéo dài 36 tuần và chia làm hai học kỳ, mỗi học kỳ 18 tuần thực học và kiểm tra hoặc thi vào cuối học kỳ.

2. Mỗi năm học có hai tuần nghỉ tết nguyên đán, một tuần nghỉ giữa hai học kỳ, một tuần sinh hoạt tập thể.

Điều 60.

1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến và các trường đại học hàng đầu trên Thế Giới và khu vực đầu tư mở các trường đại học ở Việt Nam.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các trường đại học trong nước vươn lên trở thành các trường đại học hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

Điều 61.

1. Cần thực hiện tốt việc trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình người học. Gia đình cần biết rõ việc học tập rèn luyện của con em họ ở nhà trường.

2. Nghiêm cấm việc dạy thêm và học thêm.

Điều 62.

Nhà nước kêu gọi và khuyến khích mọi công dân Việt Nam không ngừng học tập tiến bộ, học và học suốt đời nhằm tạo cho xã hội Việt Nam trở thành một xã hội học tập.

Chương VI. Y TẾ VÀ THỂ DỤC THỂ THAO

Điều 63.

1. Nhà nước chăm lo đến phát triển y tế cộng đồng để mọi người sống trên đất nước Việt Nam có điều kiện khám chữa bệnh thuận lợi. Mạng lưới các bệnh viện lớn đa khoa và chuyên khoa được phân bố đều trong các cụm tỉnh thành phố, đi liền với việc hiện đại hóa các bệnh viên ở tuyến huyện và các bệnh xá ở tuyến xã bằng cách cung cấp các thiết bị cần thiết nhất là đào tạo đầy đủ lực lượng thầy thuốc.

2. Nhà nước khuyến khích và động viên việc rèn luyện sức khỏe thường xuyên trong các cộng đồng dân cư nhằm làm cho xã hội trở thành một xã hội khỏe mạnh.

Điều 64.

1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài mở các bệnh viện tư.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện đề người nước ngoài hoặc các nước có nền y học tiên tiến mở bệnh viện tư ở Việt Nam.

Điều 65.

1. Chỉ các bệnh viện có đủ đội ngũ thày thuốc và đủ các trang thiết bị cần thiết mới được hành nghề.

2. Các thày thuốc chỉ có thể hành nghề trong các bệnh viện công (do nhà nước quản lý) hoặc trong các bệnh viện tư (do tư nhân quản lý)

3. không có thày thuốc nào vừa làm trong bệnh viện công lại vừa làm ở bệnh viện tư hoặc chữa ngoài.

4. Các thày thuốc phải nâng cao đạo đức nghề nghiệp phải coi việc chữa bệnh cho con người là việc hết sức quan trọng.

Điều 66.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các công ty dược phẩm nghiên cứu chế tạo các loại thuốc chữa bệnh bằng các dược liệu trong nước.

Điều 67.

Các loại thuốc mới phát minh sản xuất ra cần được thí nghiệm cẩn thận theo đúng quy trình trước khi áp dụng để chữa bênh trên diện rộng.

Điều 68.

Nhà nước khuyến khích giới y học, dược học nghiên cứu sâu sắc thêm phương pháp chữ bệnh bằng y học cổ truyền của dân tộc làm phong phú thêm kho tàng y lý đông y.

Điều 69.

Bệnh viện và thày thuốc phải chịu trách nhiệm về an toàn tính mạng của bệnh nhân mà mình điều trị.

Điều 70.

Nhà nước khuyến khích động viên mọi người dân tích cực rèn luyện thân thể làm cho thân thể mỗi người ngày càng khỏe mạnh cường tráng và làm cho xã hội Việt Nam là xã hội khỏe mạnh.

Điều 71.

1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vào các môn thể thao đỉnh cao.

2. Ở mỗi cụm tỉnh thành phố (tính theo đơn vị bầu cử) có các sân vận động, các nhà thi đấu.

Chương VII. KINH TẾ XÃ HỘI – KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Điều 72.

1. Nền kinh tế quốc dân Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Các thành phần của nền kinh tế quốc dân gồm: tư nhân, tập thể và nhà nước. Các thành phần kinh tế nói trên được đối xử công bằng và bình đẳng trước luật pháp.

2. Các mặt của nền kinh tế quốc dân gồm: thủ công, nông nghiệp, du lịch dịch vụ, công nghiệp. Nhà nước khuyến khích nền công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp thân thiện với môi trường và cơ cấu lại các nguồn lực như lao động, cơ sở vật chất của các mặt của nền kinh tế quốc dân cho phù hợp trong hoàn cảnh mới.

3. Mọi cạnh tranh trong nền kinh tế phải lành mạnh phù hợp với luật pháp.

4. Nhà nước bảo hộ nền kinh tế tư nhân, sở hữu tư nhân và không quốc hữu hóa trong bất kỳ tình huống nào.

5. Nhà nước thực hiện chính sách chống độc quyền đảm bảo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, trong sạch.

6. Tăng sức mua của nhân dân đi liền với kiềm chế triệt để lạm phát, giảm nợ công và chi tiêu công.

7. Không tăng trưởng nóng, bấp bênh, thiếu ổn định và không bền vững.

8. Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, làm lành mạnh và minh bạch nền tài chính quốc gia.

Điều 73.

Nhà nước coi trọng phát triển kinh tế vùng miền, liên vùng miền và chỉ đạo các tỉnh theo xu thế này làm cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng phát triển, ngày càng hội nhập sâu sắc hơn với kinh tế khu vực và thế giới.

Điều 74.

Trong các trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh hay phòng chống thiên tai nhà nước sẽ mua lại các tài sản tư nhân này theo giá thị trường tại thời điểm mua.

Điều 75.

Nhà nước coi trọng việc phát triển khoa học công nghệ, coi khoa học công nghệ và giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Điều 76.

1. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các giới nghiên cứu khoa học giảng dạy trao đổi với các đồng nghiệp nước ngoài.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để mở các viện nghiên cứu tư nhân để nhà nước, các tập đoàn sản xuất trở thành những khách hàng cho các vấn đề cần thiết.

Điều 77.

Thành lập viện khoa học Việt Nam để khai thác tiềm năng trí tuệ của người Việt Nam và để người Việt Nam có điều kiện đóng góp khả năng trí tuệ của mình phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

Chương VIII. TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Điều 78.

1. Tài nguyên là tất cả các nguồn của cải dự trữ hữu hình hay vô hình có khả năng sinh lợi như con người, trí tuệ, sức lao động, thác nước, hầm mỏ trong lòng đất, lòng biển, thềm lục địa, vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế v.v … Tài nguyên rất cần thiết cho việc phát triển kinh tế đất nước và là nguồn dự trữ cho con cháu mai sau.

2. Nhà nước thống nhất quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên một cách khoa học, hợp lý và hiệu quả nhất.

3. Trong các trường hợp cần thiết nhà nước kêu gọi nước ngoài hoặc tư nhân cùng đầu tư khai thác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi trên cơ sở không lãng phí tài nguyên.

Điều 79.

1. Nghiêm cấm mọi hình bán nguyên liệu tài nguyên thô hoặc tài nguyên qua sơ chế ra nước ngoài.

2. Khuyến khích dùng công nghệ cao để chế biến nguyên liệu thô không gây ô nhiễm môi trường.

Điều 80.

1. Mọi người sống trên đất nước Việt Nam và mọi công dân phải có ý thức bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hình thức xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường.

2. Nghiêm cấm mọi hình thức phá hoại môi trường: làm ô nhiễm suối, sông, hồ, đốt phá rừng, đốt phá các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, săn bắt và tiêu thụ động vật hoang dã.

3. Trong các trường hợp cơ quan đơn vị có chất xả thải như nước thải, khói bụi … nhưng vượt quá khả năng xử lý của cơ quan đơn vị thì phải nộp thuế làm sạch mội trường.

Điều 81.

1. Khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu làm sạch môi trường với quy mô công nghiệp: chế biến rác thải, làm sạch nguồn nước và khói bụi.

2. Nghiêm cấm mọi hình thức mang theo các sinh vật lạ vào Việt Nam, cần nghiên cứu tìm tòi các biện pháp tiêu diệt các sinh vật ngoại lai đang gây hại cho cây trồng vật nuôi trong nước.

Điều 82.

1. Hạn chế tối đa việc dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng, thuốc diệt cỏ để bảo vệ môi trường và dần phục hồi môi trường trong lành vốn có trước đây.

2. Kiểm soát chặt chẽ việc chế biến thức ăn chăn nuôi, không được dùng các loại hóa chất không được phép sử dụng ở Việt Nam và thế giới làm thức ăn chăn nuôi.

3. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn thực phẩm trực tiếp dùng cho con người. Các nguồn thực phẩm dùng cho con người phải có nguồn gốc rõ ràng: nếu là động vật phải được chăn nuôi bằng thức ăn tự nhiên và các loại không độc hại cho con người, nếu là thực vật phải không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật.

Chương IX. CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ ĐỐI NGOẠI

Điều 83.

1. Về đối nội Nhà nước thực hiện chính sách dân chủ, khách quan, công bằng, thực sự do dân vì dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân.

2. Nhà nước luôn đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc lên trên hết và hết sức coi trọng quyền lợi của nhân dân.

3. Nhà nước Việt Nam có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để công bố chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (trừ vài đảo nằm gần bờ các nước ASEAN khác do nhân dân và nhà nước các nước này đã khai thác và quản lý).

Điều 84.

1. Về đối ngoại nhà nước Việt Nam có quan hệ tốt với các nước trong cộng đồng ASEAN là một thành viên tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng này.

2. Nhà nước Việt Nam là láng giềng hữu nghị, thân thiện và tin cậy của các nước trong khu vực trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản.

3. Nhà nước Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức và đầy đủ với các khu vực khác nhau trên Thế Giới không phân biệt chế độ chính trị, đặc biệt là các nước có nền công nghiệp và kỹ nghệ tiên tiến như Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Isaraen, Ấn Độ, … và các nước bạn bè truyền thống ở Trung và Đông Âu như Nga, Belorutsia, Ucraina … trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.

4. Nhà nước Việt Nam không thừa nhận đường lưỡi bò  9 hay 11 đoạn vì nó không có căn cứ lịch sử, pháp lý và khoa học, không phù hợp với luật biển 1982 của Liên Hợp Quốc.

Chương X. AN NINH QUỐC PHÒNG

Điều 85.

1. Sự nghiệp bảo vệ tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân.

2. Công dân Việt Nam có nghĩa vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

3. Công dân Việt Nam đến tuổi quy định phải làm đầy đủ nghĩa vụ quân sự.

Điều 86.

1. Nhà nước có trách nhiệm và ưu tiên xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng chính quy hiện đại, đáp ứng nhu cầu phòng thủ đất nước trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu biến động về quân sự trong khu vực và trên Thế Giới.

2. Đặc biệt cần hiện đại hóa lực lượng hải quân, không quân và phòng không bằng việc mua sắm, đóng mới các tàu tuần duyên, các chiến hạm, các sân bay quân sự ở khu vực duyên hải Miền Trung, các loại pháo và tên lửa phòng không đảm bảo hòa bình và ổn định lâu dài ở Biển Đông.

Điều 87.

Lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm lực lượng quân đội chính quy, lực lượng công an, các lực lượng dự bị ở địa phương. Lực lượng vũ trang nhân dân là lực lượng nòng cốt có nghĩa vụ trung thành với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Điều 88.

Lực lượng vũ trang nhân dân không là công cụ của bất kỳ đảng phái chính trị nào. Lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò trung lập trong sự cạnh tranh chính trị giữa các chính đảng.

Chương XI. HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA

Điều 89.

1. Hội đồng bầu cử quốc gia là tổ chức độc lập hoạt động theo hiến pháp và pháp luật.

2. Hội đồng bầu cử quốc gia có chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy viên và nhân viên.

3. Hội đồng bầu cử quốc gia có chức năng tổ chức tổng tuyển cử, tổ chức giám sát và mời các giám sát viên quốc tế (nếu cần).

4. Trước khi tổng tuyển cử 6 tháng hội đồng bầu cử quốc gia nhận danh sách báo cáo số đảng viên của mỗi chính đảng, công bố công khai số đảng viên của mỗi chính đảng và quyết định ba đảng có số đảng viên nhiều nhất xếp từ cao đến thấp tham gia tranh cử.

5. Chủ tịch hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm kỳ năm năm được bầu đồng thời với bầu quốc hội

6. Hội đồng bầu cử quốc gia khóa trước công tác liên tục và có trách nhiệm đến khi thực hiện xong kỳ tổng tuyển cử tiếp theo mới thực hiện bàn giao cho người kế nhiệm.

Điều 90.

1. Hội đồng bầu cử cấp liên huyện là cấp dưới trực tiếp của hội đồng bầu cử quốc gia.

2. Hội đồng bầu cử cấp liên huyện chỉ nhận chỉ thị nghị quyết từ Hội đồng bầu cử quốc gia.

3. Hội đồng bầu cử cấp liên huyện có chức năng tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân cấp liên huyện và tham dự các cuộc họp hội đồng nhân dân cấp liên huyện theo định kỳ.

Điều 91.

Trong các kỳ họp quốc hội có sự tham gia của chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia (hoặc người đại diện) để trả lời chất vấn của các đại biểu quốc hội về tình hình tổ chức bầu cử, đọc báo cáo tham vấn về tình hình bầu cử.

Chương XII. TÒA ÁN HIẾN PHÁP TỐI CAO

Điều 92.

1. Tòa án hiến pháp là tổ chức độc lập hoạt động theo hiến pháp và pháp luật. Tòa án hiến pháp có chánh án, các phó chánh án, các thẩm phán và nhân viên.

2. Tòa án hiến pháp tối cao có chức năng rà soát các luật, quyết định, nghị định, pháp lệnh (gọi chung là các văn bản quy pham pháp luật) do quốc hội, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, các bộ trưởng ban hành có phù hợp với hiến pháp không. Nếu các văn bản pháp luật này không phù hợp với hiến pháp thì ra khuyến nghị thông báo cho nơi ra các văn bản luật này biết để đình chỉ việc thi hành.

3. Chánh án tòa án hiến pháp tối cao được bầu đồng thời với bầu quốc hội nhiệm kỳ 5 năm.

Điều 93.

1. Tòa án hiến pháp cấp khu vực và cấp liên huyện là các tòa án hiến pháp cấp dưới của tòa án hiến pháp tối cao.

2. Tòa án hiến pháp cấp dưới chỉ nhận chỉ thị, nghị quyết từ toa án hiến pháp tối cao hoặc cấp cao hơn trực tiếp. 

3. Tòa án hiến pháp cấp khu vực có chức năng rà soát các văn bản do chủ tịch các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương trong khu vực ký ban hành có phù hợp với hiến pháp và pháp luật không, nếu không phù hợp thì ra khuyến nghị thông báo cho nơi ra quyết định biết để đình chỉ việc thi hành.

4. Tòa án hiến pháp cấp liên huyện có chức năng rà soát các văn bản do chủ tịch các huyện và hội đồng nhân dân cấp liên huyện ký ban hành có phù hợp với hiến pháp, pháp luật không. Nếu không phù hợp thì ra khuyến nghị thông báo cho nơi ra các văn bản đó để đình chỉ việc thi hành.

Điều 94.

Chánh án tòa án hiến pháp tối cao là đại biểu đương nhiên trong các kỳ họp quốc hội để trả lời chất vấn của các đại biểu về việc thi hành hiến pháp và pháp luật của các cơ quan hành pháp và đọc báo cáo về kết quả theo dõi việc thi hành hiến pháp và pháp luật.

Chương XIII. TÒA ÁN TỐI CAO

Điều 95.

1. Tòa án tối cao là tổ chức bảo vệ pháp luật hoạt động độc lập theo hiến pháp và pháp luật. Tòa án tối cao có chánh án, các phó chánh án, các thẩm phán cao cấp và nhân viên.

2. Tòa án tối cao có trách nhiệm xét xử các vụ án phức tạp vượt quá phạm vi xét xử của các toàn án cấp dưới đồng thời có văn bản hướng dẫn các tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật không để tồn đọng kéo dài.

3. Chánh án tòa án tối cao được bầu đồng thời với bầu quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm và công tác liên tục cho đến khi bàn giao cho người kế nhiệm trong kỳ tổng tuyển cử khóa tiếp theo.

Điều 96.

Tòa án khu vực và tòa án liên huyện là các tòa cấp dưới của tòa án tối cao. Tòa án khu vực và liên huyện chỉ nhận chỉ thị, nghị quyết, quyết định từ các tòa án cấp trên. Các tòa án khu vực và liên huyện có chánh án, các phó chánh án các thẩm phán trung cấp và sơ cấp.

Điều 97.

Chánh án tòa án tối cao là đại biểu đương nhiên trong các kỳ họp quốc hội để trả lời chất vấn của đại biểu về công tác thi hành án và đọc báo cáo về công tác thi hành án.

Chương XIV. VIỆN KIỂM SÁT TỐI CAO

Điều 98.

1 Viện kiểm sát tối cao là cơ quan bảo vệ pháp luật giữ quyền công tố hoạt động bên cạnh tòa án tối cao để việc xét xử được đúng người đúng tội.

2. Viện kiểm sát tối cao hoạt động độc lập theo hiến pháp và pháp luật.

3. Viện kiểm sát tối cao có viện trưởng viện kiểm sát tối cao, các phó viện trưởng các kiểm sát viên cao cấp và nhân viên.

4. Viện trưởng viện kiểm sát tối cao được bầu đồng thời với bầu quốc hội có nhiệm kỳ năm năm.

Điều 99.

1. Viện kiểm sát khu vực, viện kiểm sát liên huyện là các viện kiểm sát cấp dưới của viện kiểm sát tối cao. Các viện kiểm sát cấp dưới chỉ nhận chỉ thị nghị quyết của các viện kiểm sát cấp trên.

2. Các viện kiểm sát khu vực và liên huyện có viện trưởng các phó viện trưởng các kiểm sát viên trung cấp và sơ cấp.

Điều 100.

Việc nâng ngạch bậc công chức ngành viện kiểm sát làm theo điều 94 đối với ngành tòa án.

Điều 101.

Viện trưởng viện kiểm sát tối cao là đại biểu dương nhiên trong các kỳ họp quốc hội để trả lời chất vấn của các đại biểu về công tác kiểm sát và đọc báo cáo đánh giá công tác kiểm sát.

Chương XV. KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

Điều 102.

1. Kiểm toán nhà nước là cơ quan hoạt động độc lập theo hiến pháp và pháp luật có trách nhiệm thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

2. Tổng kiểm toán nhà nước là người đứng đầu kiểm toán nhà nước có nhiệm kỳ 5 năm được bầu đồng thời với bầu quốc hội.

3. Kiểm toán cấp khu vực và liên huyện là cơ quan kiểm toán cấp dưới của kiểm toán nhà nước. Kiểm toán cấp dưới chỉ nhận thỉ thị nghị quyết của kiểm toán cấp trên.

Điều 103.

1. Các công chức ngành kiểm toán phải thực hiện công tác một cách nhanh chóng, trung thực, bí mật, an toàn.

2. Các trường hợp cần thiết có thể phải thuê kiểm toán nước ngoài.

Điều 104.

Tổng kiểm toán nhà nước được bầu cùng thời gian với bầu quốc hội nhiệm kỳ năm năm.

Điều 105.

Trong các kỳ họp quốc hội, tổng kiểm toán nhà nước là đại biểu đương nhiên để trả lời chất vấn của đải biểu quốc hội về công tác kiểm toán và báo cáo công tác kiểm toán.

Chương XVI. QUỐC HỘI

Điều 106.

1. Quốc hội là cơ quan tối cao có quyền định chế hiến pháp, pháp luật hoặc phê chuẩn pháp luật do một nhóm nghị sỹ đệ trình.

2. Quốc hội có chức năng giám sát việc thi hành hiến pháp, pháp luật của các cơ quan hành pháp ra khuyến nghị đối với các cơ quan hành pháp nếu việc thực hiện hiến pháp, pháp luật không được thi hành nghiêm chỉnh.

3. Quốc hội có chức năng sửa đổi một số điều của luật hoặc toàn bộ luật nếu luật đó không còn phù hợp.

4. Quốc hội có chức năng đề nghị sửa đổi một số điều của hiến pháp. Việc sửa đổi một số điều của hiến pháp chỉ có hiệu lực khi có quá hai phần ba số đại biểu tán thành và phải làm theo hướng dẫn tại các điểm 1, 2, 3 điều … chương 18.

5. Quốc hội có thể đề nghị thay đổi toàn bộ hiến pháp nhưng phải có quá hai phần ba số đại biểu tán thành và làm theo điều . Chương 18.

Điều 107.

1. Quốc hội phê chuẩn chức danh thủ tướng do chủ tịch nước đề nghị.

2. Quốc hội phê chuẩn các chức danh phó thủ tướng, các bộ trưởng và tổng cục trưởng do thủ tướng đề nghị sau khi đã thỏa thuận với chủ tịch nước.

Điều 108.

Quốc hội có quyền phê duyệt chính sách tài khóa của chính phủ, các chính sách kinh tế vĩ mô, nợ công và yêu cầu thủ tướng hay các bộ trưởng giải trình.

Chương XVII. CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 109.

1. Chủ tịch nước là người đại diện hợp pháp của đảng cầm quyền hay liên minh cầm quyền (đảng hay liên minh vừa thắng cử trong cuộc tổng tuyển cử).

2. Chậm nhất là 30 ngày sau khi có kết quả chính thức chủ tịch nước phải chỉ định được thủ tướng và cùng thủ tướng dự kiến được các phó thủ tướng, các bộ trưởng, tổng cục trưởng.

3. Chủ tịch nước và chính phủ khóa trước hoạt động bình thường và có trách nhiệm đến khi bàn giao xong cho người kế nhiệm.

Điều 110.

Chủ tịch nước là người thay mặt nhà nước tuyên bố các tình trạng khẩn cấp và quan trọng của đất nước sau khi đã thông báo cho quốc hội biết.

Điều 111.

1. Chủ tịch nước là người ký tặng danh hiệu giáo sư, nhà giáo nhân dân, nghệ sỹ nhân dân, thày thuốc nhân dân theo đề nghị của bộ giáo dục và đào tạo, bộ văn hóa thông tin, bộ y tế.

2. Chủ tịch nước là người ký phong quân hàm cấp tướng cho sỹ quan quân đội và công an do bộ quốc phòng và bộ công an đề nghị.

3. Chủ tịch nước là người ký bổ nhiệm thẩm phán cao cấp, kiểm sát viên cao cấp và chủ tịch các tỉnh do tòa án tối cao, viện kiểm sát tối cao và tỉnh đề nghị.

Điều 112.

Chủ tịch nước có ban cố vấn ít nhất 5 người về các vấn đề kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh.

Điều 113.

Chủ tịch nước là đại biểu đương nhiên trong các kỳ họp quốc hội để báo cáo về công tác thực hiện hiến pháp và pháp luật, đọc thông điệp đầu năm về đường lối chính trị, ngoại giao, kinh tế của đất nước.

Điều 114.

Chủ tịch nước không giữ quá hai nhiệm kỳ liên tục và ở trong độ tuổi từ 50 đến 80.

Chương XVIII. CHÍNH PHU VÀ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Điều 115.

1. Sau khi quốc hội phê chuẩn xong các chức danh thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, tổng cục trưởng. Nội các chính thức hoạt động.

2. Thủ tướng là người đứng đầu nội các Chính Phủ gồm các bộ, các tổng cục. Dưới thủ tướng là các phó thủ tướng, phó thủ tướng thứ nhất thay mặt thủ tướng điều hành Nội Các khi thủ tướng vắng mặt.

3. Thủ tướng phân công công tác cho các phó thủ tướng mỗi phó thủ tướng phụ trách một số bộ, phó thủ tướng chịu trách nhiệm trực tiếp trước thủ tướng.

4. Thủ tướng có ba thư ký riêng và một ban cố vấn độc lập gồm 5 người chưa kể các phó thủ tướng các bộ trưởng và thứ trưởng.

5. Mỗi phó thủ tướng có hai thư ký riêng.

Điều 116.

Chính phủ trực tiếp điều hành toàn bộ nền kinh tế vĩ mô và vi mô của đất nước, các vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng, trật tự an ninh.

Điều 117.

1. Thủ tướng, các phó thủ tướng là đại biểu đương nhiên trong mỗi kỳ họp quốc hội để trả lời chất vấn của các đại biểu quốc hội hoặc để để báo cáo trước quốc hội về tình hình kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh giữa hai kỳ họp. Khi cần chất vấn hoặc nghe báo cáo của bộ nào thì bộ trưởng hay thứ trưởng thứ nhất của bộ đó có mặt.

2. Thủ tướng, các phó thủ tướng hay bộ trưởng có trách nhiệm báo cáo trung thực và chịu trách nhiệm về các báo cáo của mình.

Chương XIX. BỘ VÀ CƠ QUAN NGANG BỘ

Điều 118.

1. Bộ là cơ quan chuyên môn lớn nhất của quốc gia trực thuộc nội các chính phủ do thủ tướng chính phủ trực tiếp quản lý và điều hành.

2. Có các bộ: Quốc phòng, Ngoại giao, Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Công an, Nội vụ, Tài nguyên Môi trường, Nông Lâm nghiệp, Khoa học Công nghệ, Văn hóa Thông tin Thể thao, Y tế, Công thương, Xây dựng.

3. Mỗi bộ có bộ trưởng và các thứ trưởng. Thứ trưởng thứ nhất thay mặt bộ trưởng điều hành công việc khi bộ trưởng vắng mặt.

4. Tổng cục là cơ quan chuyên môn ngang bộ trực thuộc nội các chính phủ do thủ tướng quản lý và điều hành.

5. Mỗi tổng cục có tổng cục trưởng và các phó tổng cục trưởng, phó tổng cục trưởng thứ nhất thay mặt tổng cục trưởng điều hành công việc khi tổng cục trưởng vắng mặt.

6. Có các tổng cục: Thống kê, Thuế, Du lịch, Dạy nghề.

7. Số lượng các bộ, tổng cục có thể thêm bớt do thủ tướng chính phủ thỏa thuận với chủ tịch nước và được quốc hội phê chuẩn.

8. Mỗi bộ trưởng, tổng cục trưởng có hai thư ký riêng. Mỗi thứ trưởng, phó tổng cục trưởng có một thư ký riêng.

Điều 119.

Bộ và tổng cục tham mưu đề xuất với thủ tướng Chính phủ những chính sách hợp lý và biện pháp thực hiện vừa để kích thích tăng cường sản xuất kinh doanh vừa mang lại nguồn thu cho quốc gia.

Chương XX. CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

Điều 120.

1. Ở mỗi tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có một Ủy ban hành chính gọi là Ủy ban hành chính tỉnh (thành phố). Tên được đặt như sau: Ủy ban hành chính tỉnh (thành phố trưch thuộc trung ương) + tên địa phương. Ví dụ: Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội.

2. Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là tỉnh) là cơ quan hành chính cao nhất ở địa phương có trách nhiệm trước toàn thể nhân dân địa phương mình về đời sống dân sinh, an toàn tính mạng tài sản, khám chữa bệnh, thu ngân sách, quốc phòng an ninh … Người đứng đầu ủy ban hành chính tỉnh là chủ tịch tỉnh do chủ tịch nước bổ nhiệm có nhiệm kỳ 5 năm. Dưới chủ tịch tỉnh là các phó chủ tịch do chủ tịch tỉnh đề nghị và được sự nhất trí của chủ tịch nước.

3. Giúp việc và tham mưu cho ủy ban hành chính là các sở. Sở là cơ quan ngành dọc cấp dưới của bộ. Người đứng đầu sở là giám đốc sở do chủ tịch Ủy Ban hành chính tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) bổ nhiệm có sự tham khảo ý kiến của bộ chủ quản và của cán bộ trong sở. Tên sở được đặt theo tên của bộ chủ quản sau cùng là tên địa phương. Ví dụ: sở nội vụ tỉnh Bắc Giang.

4. ủy ban nhân dân tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) tuân theo sự điều hành của chính phủ.

5. Chủ tịch tỉnh được tham dự kỳ họp quốc hội và là thành viên trong đoàn đại biểu quốc hội khu vực với tư cách khách mời để trực tiếp tiếp thu nghị quyết của quốc hội.

6. Chủ tịch tỉnh được tham dự các cuộc họp hàng tháng hàng quý của đại biểu quốc hội khu vực với tư cách là đại biểu đương nhiên.

Điều 121.

1. Ở mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có một ủy ban hành chính. Tên được đặt như sau: Ủy ban hành chính + tên huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) + tên tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương). Ví dụ: Ủy ban hành chính quận Đống Đa thành phố Hà Nội, Ủy ban hành chính thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương. Ủy ban hành chính huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải phòng.

Chương XXI. CÁCH CHỨC, BÃI NHIỆM, MIỄN NHIỆM

Điều 122.

1. Cách chức là hình thức kỷ luật cao nhất đối với một công chức khi công chức không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cách chức được áp dụng cho các chức vụ được bổ nhiệm. Người hoặc cấp nào bổ nhiệm thì người đó, cấp đó ra quyết định cách chức.

2. Bãi nhiệm về hình thức giống cách chức nhưng đối với các chức vụ được bầu.

3. Miễn nhiệm là không tiếp tục giữ chức vụ công tác vì lý do sức khỏe hoặc chuyển sang cương vị công tác khác. Miễn nhiệm được áp dụng cho cả vị trí công tác được bổ nhiệm hoặc được bầu.

4. Cách chức, bãi nhiệm và miễn nhiệm phải tiến hành theo trình tự thủ tục pháp lý cần thiết do luật định.

Chương XXII. PHÚC QUYẾT HIẾN PHÁP HIỆU LỰC VÀ SỬA ĐỔI

Điều 123.

1. Hiến pháp là bộ luật cơ bản của quốc gia là bộ luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản quy phạm pháp luật khác như luật, pháp lệnh, quyết định, nghị định … phải phù hợp với hiến pháp.

2. Nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm hiến pháp.

Điều 124.

1. Chỉ nhân dân mới có quyền phúc quyết hiến pháp sau khi được đọc và nghiên cứu kỹ trong một khoảng thời gian thích hợp là 60 ngày.

2. Hình thức phúc quyết là trưng cầu dân ý và bỏ phiếu kín có sự giám sát chặt chẽ của tòa án hiến pháp tối cao và giới báo chí truyền thông có thể cả lực lượng giám sát quốc tế (nếu cần).

3. Hiến pháp có hiệu lực thi hành sau ngày thứ 60 khi đã được phúc quyết và đạt quá bán đồng ý.

Điều 125.

Căn cứ hiến pháp quốc hội ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khác.

Điều 126.

Việc thay đổi hiến pháp được quy định như sau:

1. Khi có quá hai phần ba số nghị sĩ quốc hội đề nghị sửa đổi thì người đứng đầu của nhóm phải làm tờ trình nói rõ cần thay đổi những điều nào, điểm nào trong hiến pháp và nói rõ lý do cần thay đổi.

2. Tòa án hiến pháp tối cao xem xét tính xác thực của tờ trình và bỏ phiếu kín phê chuẩn.

3. Nếu có quá bán số thành viên của tòa án hiến pháp đồng ý thì quốc hội thành lập ủy ban sửa đổi hiến pháp. Những điều, những điểm được thay đổi do quốc hội phê chuẩn vào kỳ họp quốc hội gần nhất.

4. Việc thay đổi toàn bộ hiến pháp phải tổ chức trưng cầu dân ý.

LVH-VD

Tháng 5 năm 2013.

 

 

Advertisements

Tháng Bảy 11, 2013 - Posted by | Chính Trị-Xã Hội, Pháp Luật-Công lý | , ,

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s