TRÍ THỨC
Người dịch: Quang, theo basamnews
Nguồn: DICTIONNAIRE DES MOTS
Lời người dịch: Trong khi xã hội chúng ta đang phải đối diện với hàng loạt các vấn đề sôi động liên quan đến đời sống cá nhân và cộng đồng, xuất hiện trên các diễn đàn thông tin nhiều bài viết và những tranh luận xoay quanh khái niệm vị thế và trách nhiệm của người trí thức trong xã hội hiện nay. Dĩ nhiên xã hội không chỉ thuộc về những người được cho là trí thức – khái niệm còn phải xem lại – mà nó là của tất cả những thành viên sống và thuộc về nó. Nhưng dù vậy, vẫn tồn tại trong xã hội những nhóm “tinh hoa” có khả năng dẫn dắt hướng đi cho đám đông. Để thêm tính sinh động cho diễn đàn, chúng tôi dịch và giới thiệu bài viết của Pierre Berlan về giới trí thức Pháp thế kỷ XX.
***
Thuật ngữ trí thức xuất phát từ tiếng La-tinh intellectualis (« cái liên quan đến trí tuệ, trí óc », gần với từ intellĭgĕre (« nhận thức được », « nắm bắt được », « hiểu biết được »).
Tính từ này trở thành danh từ dưới ngòi bút của Clémanceau trong thời điểm xảy ra vụ Dreyfus *. Với nhan đề « Tuyên ngôn của các trí thức », tờ báo L’Aurore (Bình minh) của ông công bố ngày 14 tháng 1 năm 1898 đoạn viết như sau : « Những người ký tên kháng nghị chống lại sự vi phạm pháp luật của bản án năm 1894 và phản đối những bí ẩn xung quanh vụ Esterhary, vẫn kiên trì yêu cầu xét lại ». Xuất hiện trong bản danh sách, đứng đầu có Émile Zola * và Anatole France *. Tiếp theo là Marcel Proust *, Gabriel Monod, Léon Blum, Lucien Herr… Danh từ này được Barrès sử dụng lại để chế nhạo các nhà văn, giáo sư và bác học theo phe Dreyfus.
Sau vụ Dreyfus, danh từ « nhà trí thức » được sử dụng rộng rãi để chỉ những người dấn thân trong lãnh vực chung bảo vệ các giá trị, đặc biệt trên các vấn đề tinh thần và chính trị, bằng cách dựa trên danh tiếng của mình.
Như vậy hình ảnh nhà trí thức hiện đại ra đời ở Pháp vào giai đoạn đầu thế kỷ XX. Từ đó, hình ảnh nhà trí thức đồng hành cùng những sự kiện quan trọng trong lịch sử đất nước. Họ đã ký những tuyên ngôn, những kiến nghị, công bố các tạp chí, tổ chức các cuộc biểu tình, tuần hành hay các uỷ ban bảo trợ. Mounier với tạp chí Esprit, Sartre * với les Temps modernes, Mauriac và tập sổ tay Bloc-notes de France-Observateur, mỗi người đều phân tích, đánh giá và nhận định các sự kiện. Các trí thức ủng hộ phái Cộng hoà Tây Ban Nha chống lại Franco*, họ chống lại liên minh phát xít của những năm 1930. Vichy và sự chiếm đóng của Đức đã làm xáo trộn các nền tảng, và một số người như Brasillach đã chọn hợp tác. Sau 1945, các trí thức nổi dậy chống lại các cuộc chiến tranh thực dân tại Đông Dương và Algéri. Họ lo ngại về sự đe dọa của vũ khí hạt nhân. Năm 1950, Frédéric Joliot-Curie *, Louis Aragon *, Simone Signoret *, Marcel Carné và nhiều người khác cùng ký bản kêu gọi Stockholm, kiến nghị phỏng theo cộng sản chống lại vũ khí hạt nhân. Sartre gắn bó với Đảng Cộng sản Pháp, trong khi đó Raymond Aron đả kích chủ nghĩa độc tài Staline. Năm 1951, Picasso * phác họa Massacre en Corée (Cuộc tàn sát ở Triều Tiên), bức họa được đặt hàng bởi Đảng Cộng sản Pháp nhằm mục đích tố giác chủ nghĩa Đế quốc Mỹ ở Châu Á. Ngay năm 1955, tạp chí Esprit đã tỏ ra phẫn nộ trước sự tra tấn của quân đội Pháp tại Algéri. Simone Beauvoir * dấn thân trong phong trào phụ nữ và liên kết vơí những thành viên hỗ trợ Mặt Trận giải phóng quốc gia (F.L.N). Năm 1961, họ ký tuyên ngôn 121 với mục đích chấm dứt chiến tranh Algéri. Căn hộ của Sartre bị Tổ chức quân đội mật phá nổ, Malraux bắt đầu phong trào dân chủ văn hóa bên cạnh tướng Charles de Gaulle *. Sự kiện tháng Năm 1968 diễn ra : Sartre biểu tình trước nhà máy Renault de Billancourt. Họ chống lại chiến tranh tại Việt Nam. Sau đó vào cuối những năm 1980, sự kiện sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản, xảy ra chiến tranh ở Bosnia, xuất hiện những người không giấy tờ tùy thân… danh sách dài thêm với những thông cáo phản kháng, những kiến nghị, những ủy ban và tụ họp. Chừng ấy những hoạt động và sự kiện đã góp phần và tham gia vào sự hình thành căn tính quốc gia trong suốt chiều dài của thế kỷ XX.
Như vậy, trên bình diện thế giới, Pháp luôn được xem như miền đất tiêu biểu của giới trí thức. Hầu như không cần thiết phải nói đến các nhà trí thức Pháp tại Đức hay tại Mỹ. Là nhà trí thức có thể là một «trò chơi kiểu Pháp ». Điều đó còn phải xem lại, nhưng một lúc nào đó nó củng cố cho những kiểu nói : những « cuộc đấu gà » trên truyền hình Pháp, những tranh cãi muôn thuở, những phẫn nộ, những tuyên bố, tất cả những thứ đó khiến người nước ngoài nghĩ rằng người Pháp nói để chẳng diễn đạt gì cả, và có lẽ chỉ vì thích thú bàn luận. Dù thế nào đi chăng nữa, và dù cho những ảnh hưởng thực tế của các nhà trí thức Pháp, thì tính đặc thù của quốc gia hình lục lăng ngày nay có vẻ như đang bị đe dọa. Trọng lượng của giới trí thức Pháp hình như bị xói mòn. Với khoảng thời gian theo quy tắc, nó đang báo hiệu sự kết thúc của mình. Năm 2000, nhà sử học Pierre Nora, trong trang đầu của số ra mừng 20 năm tạp chí Le Débat (Bàn luận) đã đặt tựa đề cho bài viết là « Vĩnh biệt các trí thức ? ». Régis Debary cũng vậy, đã dự báo sự lâm chung sắp đến của giới trí thức. Người ta cho rằng các trí thức Pháp đã không thực hiện những điều đáng lẽ họ phải làm. Họ ứng phó không tốt, đi lầm đường và phản bội. Vì thế, họ sẽ biến mất. Vẫn tồn tại theo mỗi thời kỳ những cá thể tạo dấu ấn, nhưng giai điệu thì hình như vẫn thế. Các nhà trí thức không còn chỉ là một đám ranh mãnh, tự phụ, kiêu căng, bị lóa mắt và hay quên lú. Những người theo phe Dreayfus hôm qua và những kẻ lợi dụng hôm nay. Nền Cộng hòa mỹ văn có thể phải nhường chỗ cho một nền Cộng hòa biến chất, nơi mà người ta tranh giành nhau các miếng bánh ngọt.
Sự hủy diệt này, được nhận định sẽ đến, chưa bao giờ xảy ra. Từ khi mà tại nước Pháp các nhà văn can thiệp vào sự thật, công lý và chính trị, từ Voltaire đến Sartre, qua Zola, vẫn luôn có các nhà trí thức tiếp tục bảo vệ cho người yếu kém trước kẻ quyền lực, cho thiểu trước đa số, cho quyền con người trước sự tàn bạo, để đặt lý lẽ hay đạo đức phổ quát lên trên những lợi ích trước mắt của cộng đồng quốc gia.
Như một tựa đề bài báo mới đây của C. Prochasson[1] đã nhấn mạnh, các nhà trí thức Pháp, ở nhiều góc độ khác nhau, là hồn của quốc gia Pháp.
Pierre Berlan
Giáo sư sử-địa, trường Trung học Prévert de Saint-Christol-lès-Alès (Pháp)
Nguồn : DICTIONNAIRE DES MOTS
Người dịch: Quang, độc giả trang Ba Sàm
[1] Christophe Prochasson, « L’intellectuel, cette âme de la nation », Cahiers français, 342, tháng 2 và 3 năm 2008, tr. 58-62.
* Ba Sàm bổ sung từ Wikipedia:
– Alfred Dreyfus: sinh ngày 9 tháng 10 năm 1859 ở Mulhouse, măt ngày 12 tháng 9 năm 1935 ở Paris, là một sĩ quan người Pháp gốc Alsace và theo đạo Do Thái, nạn nhân của một vi phạm tư pháp năm 1894 vốn là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng những năm đầu của Đệ tam cộng hòa Pháp được biết dưới tên vụ Dreyfus(1898-1906), trong đó hầu như toàn thể người dân Pháp thời ấy chia làm hai phe : những người ủng hộ Dreyfus (dreyfusard) và những người chống Dreyfus (anti-dreyfusard).
– Émile Zola: Émile Édouard Charles Antoine Zola (2 tháng 4 năm 1840 – 29 tháng 9 năm 1902), thường được biết đến với tên Émile Zola, là một nhà văn nổi tiếng của văn học Pháp trong thế kỉ 19, người được coi là nhà văn tiên phong của chủ nghĩa tự nhiên (naturalism). Bên cạnh những tiểu thuyết nổi tiếng, Zola còn được biết tới như là một trong những nhân vật quan trọng dẫn tới việc xét xử lại Vụ Dreyfus.
– Anatole France: sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học) …
– Marcel Proust: Valentin Louis Georges Eugène Marcel Proust (10 tháng 7, 1871-18 tháng 11, 1922) là một nhà văn người Pháp được biết đến nhiều nhất với tác phẩm Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu). Graham Greene đánh giá “Proust là nhà văn vĩ đại nhất thể kỷ 20, cũng như Tolstoy với thế kỷ 19″ và “những nhà văn sinh ra cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 hầu như không ai tránh được hai nguồn ảnh hưởng lớn: Proust và Freud”.
Tạp chí Time từng bầu chọn Đi tìm thời gian đã mất đứng thứ 8 trong danh sách những cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại. Năm 1995, tuần báo Pháp L’Évènement du Jeudi cùng Đài phát thanh và Trung tâm văn hóa Pompidou ở Paris đã tổ chức một cuộc thăm dò ý kiến để chọn lấy 10 cuốn sách hay nhất trong văn học Pháp cho thế hệ năm 2000. Kết quả là cuốn Đi tìm thời gian đã mất đã xếp thứ nhất …
– Jean-Paul Sartre: Jean-Paul Charles Aymard Sartre (21 tháng 6 năm 1905 – 15 tháng 4 năm 1980) là nhà văn, nhà triết học hiện sinh Pháp]. Các tác phẩm phong phú cùng những hoạt động sôi nổi trong cuộc đời ông đã có một tác động sâu rộng trong đời sống xã hội Pháp thập niên 1950-1960, khiến ông là thần tượng của thanh niên Pháp một thời. Ông cũng được biết đến cùng với người bạn đời Simone de Beauvoir, văn chương và triết học đặc sắc của hai người ảnh hưởng lẫn nhau. Suốt đời mình ông đã từ chối những danh hiệu được tặng(trừ bầng tiến sĩ danh dự của Đại học Jerusalem), bao gồm cả giải Nobel Văn học năm 1964 …
– Francisco Franco: Francisco Paulino Hermenegildo Teódulo Franco y Bahamonde (4 tháng 12 năm 1892 – 20 tháng 11 năm 1975), thường được gọi là Francisco Franco phát âm: [fɾanˈθisko ˈfɾaŋko], phiên âm tiếng Việt là Francô) hay Francisco Franco y Bahamonde là một nhà hoạt động chính trị, quân sự và một trùm phát xít của Tây Ban Nha.
Chế độ phát xít của ông được xem là một trong những giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Tây Ban Nha thời hiện đại …
– Frédéric Joliot-Curie: Jean Frédéric Joliot-Curie (19.3.1900 – 14..8.1958) là nhà vật lý học người Pháp, đã đoạt Giải Nobel Hóa họcnăm 1935.
Ông sinh tại Paris, Pháp và tốt nghiệp Trường lý hóa công nghiệp Paris. Năm 1925 ông làm phụ tá cho Marie Curie ở Viện Curie tại Paris.
Năm 1926 ông kết hôn với Irène Curie. Ngay sau đám cưới cả hai vợ chồng đều đổi tên họ thành Joliot-Curie.
Theo yêu cầu của Marie, Joliot-Curie đã thi đậu thêm bằng tú tài thứ hai, bằng cử nhân và bằng tiến sĩ khoa học với bản luận án về điện hóa của các nguyên tố phóng xạ …
– Louis Aragon: nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị Pháp, thành viên của Viện hàn lâm Goncourt. Sinh ở Paris, là con ngoài giá thú của Marguerite và Andrieux. Học Đại học Y ở Paris. Sau này, Aragon chọn bút danh cho mình lấy tên của một vùng đất lịch sử ở Tây Ban Nha. Thời trẻ Aragon gần gũi với các nhóm Dada và Surrealism. Năm 1927 gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tích cực tham gia các hoạt động báo chí. Năm 1932 cùng đoàn các nhà văn Quốc tế đến thăm vùng Ural của Liên Xô. Ấn tượng của chuyến đi này được Aragon thể hiện trong tập thơ Hourra l’Oural, (Hoan hô Ural, 1934). Vợ của Aragon là Elsa Triolet, một cô gái Liên Xô gốc Do Thái. Elsa Triolet là chị gái của Lilya Brich, vợ của nhà thơ Nga nổi tiếng Vladimir Mayakovsky, bản thân Elsa Triolet cũng là một nhà văn nổi tiếng. Thời kỳ Thế chiến II, Aragon tham gia phong trào Kháng chiến, là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào này. Các tập thơ Le Crève-Cœur, (Dao trong tim, 1941); Les Yeux d’Elsa, (Đôi mắt Elsa, 1942); thể hiện lòng yêu nước và sự quay về với những đề tài tình yêu cổ điển. Ngoài thơ ca, Aragon còn là một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị về những vấn đề của văn học hiện đại. Louis Aragon mất ở Paris năm 1982.
– Simone Signoret: (phát âm: [simɔn siɲɔˈʀɛ] trong tiếng Pháp) (25 tháng 3 năm 1921 – 30 tháng 9 năm 1985) là một nữ diễn viên điện ảnh thường được biết đến như một trong những minh tinh màn bạc vĩ đại nhất của nước Pháp. Bà là người Pháp đầu tiên đoạt tượng vàng Oscar năm 1959 nhờ vai diễn trong Room at the Top. Trong sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của mình, Signoret cũng giành được giải BAFTA, giải Emmy, giải Quả cầu vàng, Liên hoan phim Cannes và Giải Gấu bạc cho nữ diễn viên xuất sắc nhất …
– Pablo Picasso: Pablo Ruiz Picasso (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1881, mất ngày 8 tháng 4 năm 1973), thường được biết tới với tên Pablo Picasso hay Picasso là một họa sĩ và nhà điêu khắc người Tây Ban Nha. Tên đầy đủ của ông là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Clito Ruiz y Picasso. Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất của thế kỉ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.Ông là một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố …
– Simone de Beauvoir: (phát âm: [simɔndə boˈvwaʀ]; 9 tháng 1 năm 1908 – 14 tháng 4 năm 1986) là một nhà văn và nhà triết học người Pháp. Bà viết các tiểu thuyết, chuyên đề về triết học, chính trị và các vấn đề xã hội, các bài luận, tiểu sự, tự truyện. Hiện nay bà được biết đến nhiều nhất với các tác phẩm tiểu thuyết trừu tượng, bao gồm She Came to Stay và The Mandarins, tác phẩm viết năm 1949 Le Deuxième Sexe, một tác phẩm phân tích về sự áp bức phụ nữ và đề tài bình đẳng giới. Bà được trao Giải Jerusalem năm 1975. Năm 1978, bà được trao Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu …
– Charles de Gaulle: Charles de Gaulle hay Charles André Joseph Marie de Gaulle (listen (trợ giúp·chi tiết)) hay Tướng de Gaulle (22 tháng 11,1890 – 9 tháng 11, 1970) là chính khách nổi tiếng của Pháp. Ông xuất thân là một quân nhân trong Quân đội Pháp. Năm 1940, khi chính phủ Pháp đầu hàng Đức Quốc xã, ông đã vượt biên sang London, lãnh đạo tổ chức “Nước Pháp Tự do”, thành lập chính phủ Pháp lưu vong, ra lời kêu gọi người Pháp tiếp tục kháng chiến chống quân xâm lược Đức trong Thế chiến thứ hai. Năm 1958, ông thành lập nền Đệ Ngũ Cộng hòa Pháp và giữ chức Tổng thống từ năm 1959 đến năm 1969 …
Không có bình luận



Bình luận về bài viết này