Tiếng Nói Dân Chủ

Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA: ĐIỂN HÌNH CỦA TƯ DUY GIÁO DỤC LẠC HẬU

Giáp Văn Dương, theo blog Giáp Văn Dương

Dư luận đang “sửng sốt” với Đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục & Đào tạo (BGD & ĐT). Sửng sốt không phải chỉ vì số tiền dự toán quá lớn: 70 nghìn tỷ đồng, mà còn vì chất lượng đề án quá thấp và tư duy giáo dục thể hiện trong đề án quá lạc hậu.

Đọc bản đề án 32 trang mang tên “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ giáo dục & Đào tạo (BGD&ĐT), bất cứ người quan tâm đến giáo dục nào cũng không khỏi ngỡ ngàng. Điều ngỡ ngàng đầu tiên là sự sơ sài của nó. Nếu không tính đến trang bìa, phần mục lục và sơ đồ phụ lục đính kèm thì bản đề án này chỉ có vẻn vẹn 29 trang đánh máy khổ A4. Tuy nhiên, phạm vi tác động của nó lại vô cùng lớn. Nó tác động trực tiếp đến gần 20 triệu học sinh và giáo viên trên toàn quốc. Số kinh phí dự trù để triển khai đề án cũng lên đến mức kỷ lục: 70 nghìn tỷ đồng!

Nhìn vào những con số này, bất kỳ người có nhận thức thông thường nào cũng phải giật mình vì cảm nhận về sự sơ sài và bất cập không thể tránh khỏi. Với người làm chính sách hoặc có chuyên môn về giáo dục, thì chỉ cần đọc qua bản đề án, sự sơ sài và bất cập của nó hiển hiện ngay trước mắt.

Bao biện

Một trong những nội dung quan trọng của đề án là phần II: “Đánh giá việc xây dựng và triển khai chương trình sách giáo khoa hiện hành”. Phần này chia thành 6 tiểu mục, chiếm dung lượng khoảng 7 trang khổ A4. Tất cả các đánh giá trong mỗi tiểu mục này đều tuân theo mô-típ “ưu điểm & hạn chế” tối giản – tức là theo kiểu khen một tí, chê một tí – mà không dựa trên bất kỳ một cứ liệu khoa học nào. Với các đánh giá mang tính khoa học, bên cạnh phần thuyết minh thì con số, bảng biểu, hình vẽ… đóng vai trò linh hồn của đánh giá. Nhưng rất tiếc, những linh hồn này đã không hề xuất hiện. Cho nên, phần đánh giá này thực chất chỉ là phần bao biện vòng vo của các tác giả đề án.

Để có hình dung cụ thể, xin nêu ví dụ sau: Trong phần đánh giá về chương trình và sách giáo khoa hiện hành, đề án cho rằng: “Xét về tổng thể, quá trình xây dựng chương trình được qui định khá đầy đủ, rõ ràng và hợp lý”, nhưng “ các quan điểm định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi chương trình tiểu học” và “còn thiếu một số công trình nghiên cứu cần thiết cho việc phát triển chương trình phổ thông”. Như vậy, quá trình xây dựng chương trình đã được tiến hành khi chưa có quan điểm định hướng đổi mới, chưa có đủ cơ sở khoa học – tức là làm mà không biết đang làm gì, và tại sao lại làm như vậy.

Chính kiểu đánh giá khen một tí, chê một tí như thế này đã thể hiện sự không nghiêm túc của các tác giả đề án, thực chất chỉ là một sự bao biện hoa mỹ có thể viện dẫn bất cứ khi nào bản đề án cần đến. Vì thế sẽ không ngạc nhiên khi những bao biện ở phần II này đã phát triển trở thành các lập luận tự mâu thuẫn trong những phần còn lại của nội dung đề án.

Sáo rỗng

Nếu xem xét bốn nguyên tắc đổi mới chương trình, sách giáo khoa thì thấy chúng hết sức chung chung, dùng đâu cũng được, cho bất kỳ đề án nào cũng được: quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật; đảm bảo kế thừa những thành tựu của Việt Nam và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm quốc tế, đảm bảo tính thống nhất toàn quốc và linh hoạt vùng miền, khả thi, phù hợp với đối tượng học sinh; đảm bảo tính đồng bộ về nội dung, phương pháp dạy học phương thức đánh giá kết quả học tập. Xin hỏi, có đề nào lại không quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật, có đổi mới nào lại không mang tính kế thừa, có đề án nào khi đang xin xét duyệt lại tự nhận là không khả thi, và đề án giáo dục thì đương nhiên phải phù hợp với học sinh. Cho nên, tất cả những thứ liệt kê trong bốn nguyên tắc này thực chất đều là những sáo ngữ vạn năng, dùng đâu cũng được, dùng đâu cũng đúng, không hy vọng mang lại bất kỳ ý nghĩa gì mới cho đề án.

Tương tự như các nguyên tắc đổi mới nêu trên, các định hướng đổi mới, như: điều chỉnh hài hòa, cân đối giữa “dạy chữ”, “dạy người” và từng bước “dạy nghề”; nội dung giáo dục mang tính cơ bản, hiện đại, thực tiễn giúp hình thành phát triển năng lực học tập – cũng không hề mới. So sánh với chương trình, sách giáo khoa hiện hành “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản và hướng nghiệp” thì chương trình, sách giáo khoa dự định hướng tới này thực sự là một bước tụt lùi.

Trong những định huớng còn lại, ngoài việc diễn giải hết sức sơ sài ý định tiếp cận phát triển năng lực thì đề án không cho thấy bất cứ một điểm nào mới. Nếu tước bỏ cụm từ “phát triển năng lực” ra khỏi đề án thì toàn bộ những định hướng chính này do đó nội dung của toàn bộ đề án, trở nên hết sức vô nghĩa, và phần nào vô duyên.

Tự mâu thuẫn

Chính vì sự không nghiêm túc trong việc xây dựng đề án, và sự mù mờ, tối nghĩa của các khái niệm và bản thân phương pháp tiếp cận được cho là mới của đề án, đã dẫn đến những mâu thuẫn nội tại của nó. Đây là điều tối kỵ của bất cứ đề án hay lập luận có tính khoa học nào.

Đề án cho rằng nội dung chương trình phải là “những tri thức cơ bản của nhân loại, những giá trị lịch sử, văn hóa tinh hoa của dân tộc, những thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại của thế giới”, nhưng “thiết kế nội dung dạy học phải theo hướng giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành”. Hai tiêu chí này rõ ràng là trái ngược nhau: một bên thì cố gắng ôm đồm mọi tinh hoa của dân tộc và thế giới cả trong lịch sử và hiện đại, còn bên kia thì lại chủ trương giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành. Trên thực tế, điều này còn mâu thuẫn với điểm “độc sáng” của đề án là tiếp cận theo hướng phát triển năng lực, vì nếu triển khai những nội dung này thì về thực chất đề án sẽ được triển khai theo hướng trang bị kiến thức của cách tiếp cận nội dung – thủ phạm làm cho chương trình và sách giáo khoa hiện hành trở nên bất cập đến mức cần phải thay thế như đánh giá trong phần II của đề án – do đó, những hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành sẽ được lặp lại trong chương trình, sách giáo khoa mới.

Đi từ tiếp cận nội dung, trong đó chú trọng dạy kiến thức, sang tiếp cận năng lực, trong đó chú trọng phát triển năng lực cá nhân của học sinh, đòi hỏi một nguồn học liệu rất đa dạng và một tư duy linh hoạt, biện chứng, khuyến khích sự đa dạng. Nhưng việc lựa chọn chỉ có một chương trình, một bộ sách giáo khoa duy nhất dùng chung cho cả nước lại mâu thuẫn với chính mục tiêu phát triển năng lực của học sinh.

Sự tự mâu thuẫn này còn thể hiện ở các định hướng xây dựng một chương trình, biên soạn một bộ sách giáo khoa duy nhất nhưng lại phải linh hoạt vùng miền. Đảm bảo thống nhất tòan quốc nhưng các địa phương lại được quyền biên soạn các tài liệu giáo khoa hỗ trợ.

Những phân tích trên còn chưa xét đến sự mâu thuẫn trong toàn bộ quy trình làm việc, như xây dựng chương trình trước khi xác định rõ mô hình giáo dục và trước cả việc ban hành chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, như giới chuyên gia đã chỉ ra trong những ngày qua.

Sở dĩ xảy ra các mâu thuẫn này là do tư duy của Bộ giáo dục & Đào tạo về giáo dục nói chung, và tư duy về sách giáo khoa nói riêng, đã quá lạc hậu và cần phải thay đổi.

Mập mờ

Sự mập mờ đầu tiên trong đề án là mập mờ về tài chính. Tiếng là đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa mà kinh phí dành cho xây dựng chương trình và sách giáo khoa chỉ chiếm 1,37% tổng kinh phí dự trù. Như vậy là nói một đằng làm một nẻo, nói vậy mà không phải vậy. Bộ giáo dục & Đào tạo mà nói một đằng làm một nẻo như vậy xin hỏi thì còn giáo dục được ai nữa?

Sự mập mờ thứ hai là với những đề án có kinh phí lớn như thế này, đặc biệt kinh phí phần lớn lại là vốn ngân sách, thì theo qui định của pháp luật, cần phải trình lên Quốc hội. Nhưng dường như qui trình này đã không được tôn trọng.

Sự mập mờ thứ ba trong đề án thể hiện ở sự thiếu rõ ràng về tiêu chí “đổi mới căn bản và toàn diện”. Đành rằng đã đổi mới thì ai cũng muốn đổi mới căn bản và toàn diện, nhưng căn bản và toàn diện như thế nào thì không nêu, nên nếu tước bỏ cụm từ “căn bản và toàn diện” này đi thì nội dung thực sự của đề án không hề thay đổi, vì trên thực tế, cụm từ này chỉ được sử dụng làm đồ trang trí cho đề án chứ không mang một nội dung cụ thể nào.

Sự mập mờ thứ tư là cách tiếp cận theo phát triển năng lực, điểm “độc sáng” của đề án, lại cũng hết sức thiếu rõ ràng. Những năng lực này là năng lực gì, vì sao phải có nó, và có ở mức độ nào, cũng không hề được làm rõ. Cụm từ “tiếp cận theo phát triển năng lực” vì thế cũng chỉ có giá trị trang trí chứ không mang nội dung cụ thể nào.

Sở dĩ người viết mạnh dạn đề xuất lược bỏ hai cụm từ “đổi mới căn bản và toàn diện” và “phát triển năng lực”, vì chúng thực sự không mang một nội dung cụ thể nào. Đã đổi mới thì bao giờ chẳng kêu gọi đổi mới căn bản và toàn diện; còn giáo dục theo hướng phát triển năng lực thì lạy giời, chương trình giáo dục nào chẳng hướng tới tiêu chí đó, trừ phi Bộ giáo dục & Đào tạo tổng kết cho thấy chương trình giáo dục và sách giáo khoa hiện hành đang hủy diệt năng lực của học sinh và cần phải thay đổi.

Tối nghĩa

Lý do ra đời cũng như nội dung mấu chốt của đề án sách giáo khoa này là lập luận sau: “chương trình, sách giáo khoa hiện hành được xây dựng theo hướng tiếp cận nội dung nên thiên về trang bị kiến thức khoa học bộ môn”; còn chương trình, sách giáo khoa xây dựng theo đề án này sẽ “tiếp cận theo hướng phát triển năng lực”, chẳng hạn “năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường…”

Đây có thể coi là điểm mới duy nhất của đề án này. Nếu không có nó, đề án không khác gì so với những đề án thay đổi chương trình, sách giáo khoa trước đó. Nhưng rất tiếc, sự độc sáng này lại phần nhiều là “trò chơi ngôn ngữ” hơn là nội hàm khoa học mà nó có. Giả sử thay từ “năng lực” bằng “kỹ năng” thì sao? Trong văn cảnh mà đề án đề cập, khái niệm “năng lực” không khác gì so với khái niệm “kỹ năng”, ví dụ: năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực thích ứng với môi trường… chính là kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xã hội, kỹ năng thích ứng với môi trường. Nhóm kỹ năng này được nhiều nhà nghiên cứu gọi với một tên khác phổ biến hơn là kỹ năng mềm, kỹ năng sống…

Bằng thủ thuật đổi từ đồng nghĩa trong cùng văn cảnh như thế, cách tiếp cận của đề án sẽ trở thành: tiếp cận theo cách phát triển kỹ năng. Nhưng từ xưa đến nay, có chương trình giáo dục nào không nhằm hướng tới phát triển kỹ năng của học sinh? Thực tế, các chương trình giáo dục đều nhắm đến phát triển tổng thể kỹ năng, tri thức, đạo đức và thể chất, chứ không chỉ nhằm phát triển kỹ năng đơn thuần.

Một cách tương tự, nếu thay chữ “năng lực” bằng “kiến thức” thì kết quả thu được cũng gần như trên. Lý do là năng lực và kỹ năng, kiến thức không bao giờ tách rời nhau. Một người không có năng lực chính là một người thiếu kỹ năng và thiếu kiến thức. Điều đó cho thấy, “điểm sáng” duy nhất của đề án không được sáng như các tác giả nghĩ, mà thực ra, hết sức mù mờ. Chỉ bằng một động tác thay những cụm từ đồng nghĩa, toàn bộ giá trị mới của đề án đã gần như bị loại bỏ.

Giả sử với sự mù mờ trong khái niệm như thế, những người soạn chương trình và sách giáo khoa sẽ gia công tập trung vào phát triển các kỹ năng và kiến thức nói trên, thì chương trình và sách giáo khoa mới sẽ còn kém chất lượng hơn chương trình và sách giáo khoa hiện hành rất nhiều. Vì như đánh giá trong phần I và phần II của đề án: “chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã được xây dựng và biên soạn theo hướng chuẩn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu cập nhật, hiện đại, vừa bám sát nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và theo một quy trình khá thống nhất, chặt chẽ, góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục của đất nước” và có ưu điểm “chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”, thì một chương trình và sách giáo khoa mới chỉ nhắm đến phát triển các năng lực đơn thuần sẽ là một bước lùi về mặt chất lượng.

Trên thực tế, chương trình và sách giáo khoa hiện hành cũng đã được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực chứ không chỉ tiếp cận nội dung thuần túy. Ví dụ chương trình tiểu học yêu cầu: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người. Có kỹ năng cơ bản về nghe nói, đọc, viết và tính toán. Có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh…”, thì rõ ràng chương trình này hướng đến phát triển cả tri thức và năng lực của học sinh tiểu học.

Vì thế, những khái niệm quan trọng nhất của đề án, lẽ ra cần phải làm rõ trước hết, thì lại trở nên rất tối nghĩa, được sử dụng với mục đích trang trí hơn là mang những nội dung khoa học thực sự.

Những thất bại trong cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua đều có một nguyên nhân là tư duy giáo dục đã quá mức lạc hậu. Đó là tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát toàn bộ. Nhưng tiếc rằng, chính tư duy này lại là sợi dây xuyên suốt bản “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” lần này. Vì thế, để tránh một thất bại được báo trước và tiết kiệm một nguồn nhân lực, vật lực khổng lồ – 70 nghìn tỉ đồng với sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành, chính quyền địa phương – cũng như để không đẩy giáo dục lạc hậu thêm 11 năm nữa, tương ứng với thời gian thực hiện đề án, thì cách tốt nhất là hủy bỏ đề án này và triển khai việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa theo một tư duy hoàn toàn khác, đã được kiểm chứng thành công ở các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

Vòng luẩn quẩn?

Theo đánh giá của đề án, một trong những lý do để thay đổi chương trình, sách giáo khoa hiện hành vì “các quan điểm và định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông được xác định muộn (1999), không có ngay từ khi xây dựng chương trình tiểu học. Nhưng sai lầm này dường như đang được lặp lại ở mức độ cao hơn. Trong khi chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 vẫn còn đang soạn thảo, và chưa biết đến bao giờ mới ban hành, thì đề án sách giáo khoa này, với tư cách là một phần của chiến lược giáo dục, lại được lên kế hoạch triển khai trước. Mô hình giáo dục phổ thông cũng chưa được làm rõ trong khi nội dung của nó lại được đầu tư xây dựng trước. Như vậy bài học về việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa, dù đã được viết thành một tiểu mục riêng trong đề án này, trên thực tế không hề được đoái hoài đến.

Nếu để ý, chương trình sách giáo khoa hiện hành được triển khai theo Nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000, đến nay được 11 năm. Lần này, đề án cũng kéo dài trong 11 năm, 2011-2022. Những mốc thời gian 10-11 năm này tương ứng với 2 nhiệm kỳ làm việc. Dư luận vì thế sẽ có quyền đặt câu hỏi, liệu có tư duy nhiệm kỳ nào chi phối việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa này?

Viễn cảnh đáng sợ đó hoàn toàn có thể xảy ra, vì ngay như trong bản đề án này đề cập: Việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa lần này chỉ là bước “chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến tới biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa trên cơ sở một bộ chương trình thống nhất trên cả nước”.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao BGD&ĐT không triển khai ngay một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa như các nước? Có cần thiết phải chuẩn bị lâu dài và tốn kém như vậy không?

Niềm tin có còn?

Bộ chương trình, sách giáo khoa hiện hành được BDG & ĐT đánh giá là “lần đầu tiên trong lịch sử, bộ chương trình đã được xây dựng theo xu hướng quốc tế” và “đã chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kĩ năng cơ bản và hướng nghiệp”.

Một chương trình và sách giáo khoa ưu tú như vậy, được biên soạn theo một quy trình “được quy định khá đầy đủ, rõ ràng, hợp lý” như vậy, mà chỉ sau giai đoạn hoàn thiện 5 năm (2004-2006) đã phải biên soạn lại theo một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Người dân sẽ đăt câu hỏi: Những người tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa hiện hành, liệu có còn đủ năng lực để tham gia biên soạn chương trình, sách giáo khoa mới hay không, khi sản phẩm của họ chỉ 5 năm sau đã phải sửa đổi toàn diện? Và trên hết, Bộ giáo dục & Đào tạo, tác giả của chương trình, sách giáo khoa hiện hành có còn đáng tin để triển khai đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa lần này?

Vì đâu nên nỗi?

Sở dĩ vấn đề chương trình, sách giáo khoa nói riêng và cải cách giáo dục nói chung gặp thất bại liên tiếp trong thời gian vừa qua, dẫn đến việc giáo dục mỗi năm đều trở thành vấn đề nóng của xã hội, là do tư duy giáo dục của Bộ giáo dục & Đào tạo đã quá lạc hậu. Muốn khắc phục được vòng luẩn quẩn này, đồng thời khôi phục niềm tin của xã hội đối với giáo dục, thì nhất thiết tư duy giáo dục cần phải thay đổi trước hết. Điều này đồng nghĩa với việc Bộ giáo dục & Đào tạo phải từ bỏ tư duy ôm đồm, áp đặt, muốn kiểm soát mọi thứ, tham gia mọi khâu của mình.

Bộ giáo dục & Đào tạo phải lấy việc hàng năm cử hết đòan cán bộ này đến đòan cán bộ khác đi nước ngoài học hỏi mà nền giáo dục vẫn luôn luôn bất cập làm xấu hổ; phải nhìn dòng học sinh đang tìm cách “tỵ nạn giáo dục” ngày càng tăng, sự mệt mỏi của gần 20 triệu học sinh và giáo viên và hoang mang của ngần ấy bậc phụ huynh mỗi khi phải chạy theo những cải tiến-cải lùi đầy chắp vá, ngẫu hứng làm động lực từ bỏ tư duy giáo dục đã quá mức lạc hậu của mình. Bộ giáo dục & Đào tạo cũng cần phải gương mẫu trong việc dạy chữ – dạy người, không phải bằng việc dồn lực để ban hành một chương trình có nội dung lạc hậu như vậy, mà trước hết bằng việc làm của chính mình: dám từ bỏ những tư duy lạc hậu để hòa nhịp với dòng chảy thời đại.

Trong trường hợp Bộ giáo dục & Đào tạo nhất quyết không từ bỏ tư duy lạc hậu này, dư luận có quyền đặt câu hỏi tại sao Bộ giáo dục & Đào tạo lại làm như vậy? Có chăng lợi ích cục bộ nào đứng phía sau, hay chỉ đơn thuần là Bộ giáo dục & Đào tạo đang làm mà không biết mình làm gì và tại sao lại làm như vậy? Dù trường hợp nào xảy ra đi nữa thì dư luận cũng sẽ không bỏ qua cách làm giáo dục lỗi thời này, cụ thể hơn sẽ không bỏ qua đề án sách giáo khoa này, như phản ứng đã thấy trong thời gian vừa rồi.

Bản thảo của bài đăng trên Tạp chí Tia sáng.

Biên soạn sách Giáo Khoa: Đừng tự làm khó mình

Giáp Văn Dương, Theo Tuổi Trẻ Cuối tuần

TTCT – Đã có rất nhiều tranh luận về đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục – đào tạo (GD-ĐT) kèm theo nhiều phân tích, thông tin về nội tình vấn đề cả giai đoạn trước đây và hiện nay. Để có cái nhìn toàn diện hơn về đề án này và vấn đề SGK, một sự so sánh với quốc tế là cần thiết.


Học sinh mua sách giáo khoa tại nhà sách Tân Định Q.1, TP.HCM – Ảnh: Gia Tiến

Vì thế trong bài viết này, vấn đề SGK của Singapore, một nước cùng khu vực Đông Nam Á và có nhiều nét tương đồng về văn hóa, thể chất con người với Việt Nam, sẽ được dùng để tham khảo.

Theo kết quả của Chương trình quốc tế đánh giá học sinh (PISA) của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): trong số 65 nước tham gia chương trình này, học sinh của Singapore đứng thứ 5 về đọc hiểu, thứ 2 về toán, thứ 4 về khoa học. Như vậy, nếu dựa trên kết quả của PISA thì giáo dục phổ thông của Singapore thuộc nhóm 3-5 nước tốt nhất thế giới.

Việt Nam dự tính đến năm 2012 mới tham gia chương trình này nên chưa có kết quả cụ thể. Nhưng nền giáo dục của Việt Nam được giới chuyên môn đánh giá là kém hơn Singapore ở mọi bậc học.

Vậy Singapore đã xây dựng chương trình, SGK như thế nào?

Trước hết, Singapore có nhiều bộ SGK, chứ không phải một bộ thống nhất dùng toàn quốc như ở Việt Nam. Theo thống kê, số lượng SGK được Bộ Giáo dục Singapore cho phép sử dụng làm giáo trình ở bậc tiểu học (lớp 1-6) như sau:

Môn toán: 126 bộ, trung bình mỗi lớp có 21 bộ.

Tiếng Anh: 38 bộ, trung bình mỗi lớp có 6-7 bộ.

Khoa học: 81 bộ, trung bình mỗi lớp có 12-13 bộ.

Danh mục của tất cả SGK này, bao gồm tên sách, tên tác giả, nhà xuất bản, thời gian có hiệu lực, dạng sách… đều được công bố trên trang web của Bộ giáo dục Singapore cũng như trong các tài liệu hướng dẫn để bất cứ ai cũng có thể kiểm tra được (*). Ngoài ra còn nhiều sách tham khảo, sách bồi dưỡng không được Bộ Giáo dục chứng nhận là SGK, nhưng vẫn được phép sử dụng để tham khảo và bồi dưỡng học sinh. Với các bậc học khác, số lượng SGK có thể ít hoặc nhiều hơn, nhưng mỗi môn học, lớp học đều có nhiều bộ SGK để giáo viên và học sinh lựa chọn.

Bằng cách nào mà Bộ Giáo dục Singapore lại có đủ nhân lực, vật lực để biên soạn nhiều SGK như vậy?

Singapore là một nước rất trẻ, mới ra đời được 46 năm. Vậy thì không lấy đâu ra kinh nghiệm hàng chục năm trong chuyện biên soạn SGK. Trên thực tế, tất cả những gì mà Bộ giáo dục Singapore làm là biên soạn khung chương trình chuẩn cho các bậc học. SGK sẽ do các tác giả và các nhà xuất bản biên soạn theo khung chương trình chuẩn này và phát hành ra thị trường. Bộ Giáo dục sẽ thẩm định và cho phép sử dụng trong nhà trường với tư cách SGK với những bộ sách đạt yêu cầu về chất lượng. Vì thế, với SGK chương trình tiểu học, có đến 19 nhà xuất bản tham gia phát hành, thay vì một Nhà xuất bản Giáo Dục như của Việt Nam.

Liệu có phải lo ngại về chất lượng của những bộ sách này? Chất lượng giáo dục được quốc tế kiểm định; dòng học sinh của các nước, trong đó có Việt Nam, sang Singapore du học ngày càng tăng; và số lượng các đoàn cán bộ, giáo viên, trong đó có cả Bộ GD-ĐT Việt Nam, sang Singapore học hỏi kinh nghiệm sẽ là câu trả lời thuyết phục nhất.

Sách giáo khoa của Việt Nam

Đến nay, Việt Nam vẫn chỉ dùng một bộ SGK chung trên toàn quốc. Bộ chương trình và SGK hiện hành được thực hiện theo nghị quyết 40/2000/QH10 ngày 9-12-2000 và đưa vào sử dụng từ năm học 2002-2003, hoàn thiện năm 2004-2006.

Nếu coi lại đánh giá của chính Bộ GD-ĐT rằng bộ chương trình và SGK này đã “được xây dựng và biên soạn theo hướng chuẩn hóa, vừa đáp ứng yêu cầu cập nhật, hiện đại vừa bám sát nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và theo một quy trình khá thống nhất, chặt chẽ, góp phần từng bước đổi mới sự nghiệp giáo dục của đất nước”, lại có đủ thứ ưu điểm: “chú ý giáo dục toàn diện các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản và hướng nghiệp” thì thật khó mà thuận ngôn để giải thích giùm công luận tại sao đến nay, sau khi hoàn thiện được năm năm, lại trở nên bất cập tới mức mà cũng chính bộ phải xác quyết: “Đã đến lúc phải đổi mới căn bản và toàn diện chương trình giáo dục phổ thông”.

Chỉ có thực tế áp dụng mới thể hiện rõ sự bất cập của chương trình, SGK hiện hành sau năm năm hoàn thiện. Trớ trêu thay, đây cũng là lý do ra đời của đề án 70.000 tỉ đồng nọ. Vấn đề là với độ dài của đề án, 11 năm (2011-2022), ai có thể đảm bảo rằng ngay sau khi được công nhận là “hoàn thiện”, chương trình và SGK thu được lúc ấy sẽ thôi “bất cập”, sẽ không xảy ra một lần nữa đòi hỏi phải “đổi mới căn bản và toàn diện” như đặt ra với bản đề án lần này?

Chưa kể những người trực tiếp tham gia đề án, đặc biệt là lãnh đạo các bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương (theo đề án, có sáu bộ và tất cả UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương và nhiều ban, ngành, hội đồng khác tham gia) lúc ấy còn những ai ngồi lại? Ai sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về chất lượng của việc triển khai đề án?

Tư duy lạc hậu

Việc dồn sức để xây dựng một bộ chương trình, SGK cho toàn quốc phản ánh một tư duy đã lạc hậu về giáo dục nói chung và xử lý vấn đề SGK nói riêng. Đó là sự cứng nhắc, ôm đồm, nhồi nhét, áp đặt và muốn kiểm soát toàn bộ.

Và thật trớ trêu, mục đích đổi mới của đề án này lại mâu thuẫn nghiêm trọng với nội dung của chính nó. Để minh họa, xin đơn cử ví dụ sau:

Một trong những định hướng chủ đạo của đề án là “đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục” – có thể hiểu là đổi mới phương pháp, hình thức dạy và học, trong đó tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận các nguồn học liệu đa dạng, khai thác các loại thông tin phong phú qua Internet để xây dựng các chủ đề học tập theo sở thích và phát triển năng lực tự học tùy theo tốc độ, khả năng, cách học phù hợp với cá nhân học sinh. Nhưng chính việc ban hành một bộ SGK và thống nhất sử dụng trong toàn quốc đã hạn chế khả năng này.

Nếu có nhiều bộ SGK, các nguồn học liệu chắc chắn sẽ đa dạng hơn một bộ sách. Việc khuyến khích học sinh khai thác nhiều nguồn thông tin khác nhau để xây dựng chủ đề học tập lại càng làm vai trò của SGK trở nên kém cần thiết hơn. Vậy mà, trong đề án này, Bộ GD-ĐT vẫn muốn dồn lực để xây dựng một chương trình, biên soạn một bộ sách, trái với định hướng khuyến khích học sinh và giáo viên khai thác nhiều nguồn học liệu khác nhau để xây dựng chủ đề học tập.

Có lẽ Bộ GD-ĐT đã ý thức được sự phát triển tất yếu này, nên ngay trong đề án có thấy nêu: quá trình xây dựng một chương trình, một bộ SGK này chỉ là sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiến tới biên soạn nhiều bộ SGK trên cơ sở một chương trình thống nhất trong cả nước. Câu hỏi đặt ra là tại sao Bộ GD-ĐT lại chọn một sự chuẩn bị lâu dài và tốn kém như vậy mà không đi thẳng vào việc sử dụng nhiều bộ SGK song song như hầu hết các nước? Phải chăng bộ đang tự làm khó cho mình, hay còn lý do gì khác không thể giải thích được?

Một đề xuất khác

Trên cơ sở so sánh cách xử lý vấn đề SGK của Singapore và những nền giáo dục tiên tiến khác, chúng ta hoàn toàn có thể tiến hành làm SGK một cách tương tự. Bộ GD-ĐT có thể tập hợp một số chuyên gia, nhà giáo, nhà khoa học có uy tín trong nước và quốc tế để thành lập hội đồng giáo dục. Hội đồng này sẽ ban khung chương trình giáo dục chuẩn cho các bậc học.

Trên cơ sở đó, các nhà giáo, nhà khoa học sẽ biên soạn SGK cho các môn học theo khung chương trình chuẩn này, rồi trình lên hội đồng giáo dục. Nếu bản thảo đáp ứng được các yêu cầu của khung chương trình chuẩn thì sẽ được hội đồng giáo dục chứng nhận đủ tiêu chuẩn sử dụng làm SGK trong trường phổ thông. Việc biên soạn và phát hành cụ thể hoàn toàn do các cá nhân và các nhà xuất bản đảm nhiệm.

Chi phí để xây dựng một khung chương trình giáo dục chuẩn sẽ không đáng kể so với việc biên soạn toàn bộ các SGK. Nhà nước sẽ không cần phải trả công cho những người biên soạn sách vì họ đã có nhuận bút khi phát hành. Chưa kể việc có nhiều SGK, nhiều nhà xuất bản tham gia phát hành sẽ tạo ra cạnh tranh, làm chất lượng SGK liên tục được cải thiện và giá SGK chắc chắn sẽ dễ chịu hơn khi nằm trong tay một ông lớn độc quyền như Nhà xuất bản Giáo Dục hiện nay.

TS GIÁP VĂN DƯƠNG (từ Singapore)

Ở nhiều nền giáo dục tiên tiến khác, như Anh chẳng hạn, trên cơ sở các bộ SGK đang lưu hành, các sách tham khảo và các nguồn học liệu, thông tin khác, giáo viên ở Anh hoàn toàn chủ động lựa chọn những nội dung thích hợp nhất (tổ chức kiến thức, minh họa…) làm thành một bộ giáo trình riêng cho mình để giảng dạy. Tất nhiên, nội dung giảng dạy vẫn nằm trong khung chương trình chuẩn mà Bộ Giáo dục Anh đã ban hành.

Ở nhiều nơi có nền giáo dục tiên tiến khác, như ở bang California của Mỹ, nhiều trường học đã áp dụng cách học không sách vở: học không cần SGK, thậm chí không cần ghi chép. Dựa trên khung chương trình chuẩn, giáo viên và học sinh sẽ chủ động khai thác thông tin trên mạng Internet và tổ chức thành các chủ đề học tập thích hợp.

Như vậy, những nền giáo dục này đã đi qua giai đoạn nhiều bộ SGK sang giai đoạn sử dụng vô số nguồn học liệu đồng thời, nhưng tất cả vẫn dựa trên một bộ khung chương trình chuẩn đã được ban hành.

__

Tiếng Nói Dân Chủ là diễn đàn chia sẻ những quan điểm dân chủ từ nhiều nơi khác nhau. Ban Biên Tập không chịu trách nhiệm nội dung các bài viết đã được đăng tải, cũng như bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tiếng Nói Dân Chủ.

About these ads

Tháng Sáu 21, 2011 - Posted by | Thanh Niên-Sinh Viên, Văn Hóa-Giáo Dục | ,

4 phản hồi »

  1. [...] tiengnoidanchu : ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA: ĐIỂN HÌNH CỦA TƯ D… [...]

    Pingback bởi Các bài viết mới nhất « … beauty simplicity … | Tháng Sáu 21, 2011 | Trả lời

  2. có đổi mới chương trình SGK thì nhà cửa CS mới đổi mới được . thậm chí ông chuyên viên giáo dục LN Đ cũng tham gai viết sách TLV rồi bán cho các phòng GD ( thực chất là dùng quyền ) với giá 20000 đ / 1 q , rồi chẳng có trường nào áp dụng cả

    Phản hồi bởi thanh | Tháng Sáu 26, 2011 | Trả lời

  3. doi moi cung nhu khong hoc sinh fai hoc nhieu mon ma cuoi cung chang dong lai gi. Chuong trinh qua nang lai con kiem tra qua nhieu kt mieng, 15 phut, 1 tiet…

    Phản hồi bởi Mua | Tháng Chín 8, 2011 | Trả lời

  4. bộ GD nước mình chậm tiến lắm, người ta nói đầu tư cho giáo dục là có lãi nhất vậy mà các ông ấy chẳng biết làm gì cả. Những nhà cải cách vẫn mang nặng tư duy tiểu nông thì làm sao mà đưa đất nước đi lên đc. Người thông minh là ng biết đứng trên vai ng khổng lồ, đằng này các ông ấy lại cứ đòi tự mình làm tất cả, vậy không biết họ có ”đóng góp” gì trong cái khoản kinh phí khổng lồ kia không đây???????

    Phản hồi bởi caramen | Tháng Mười 31, 2011 | Trả lời


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 016 other followers